Tránh “bẫy tự do báo chí” trong thời kỳ hội nhập quốc tế

Những năm gần đây, hội nhập quốc tế ngày càng nhanh và mạnh mẽ, các quan điểm, xu hướng mới du nhập vào nước ta là tất yếu, không thể tránh khỏi và quá trình này cũng là “thời cơ” để các thế lực thù địch lợi dụng đẩy mạnh âm mưu “diễn biến hòa bình”.

Trong lĩnh vực báo chí, chiêu bài “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí” trở thành “vũ khí” để các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá ta trên mặt trận tư tưởng. Chính vì vậy, bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí là yêu cầu quan trọng, cấp thiết, là cơ sở vững chắc để tránh “bẫy tự do báo chí” của các thế lực thù địch trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế của nước ta.

Về tự do báo chí

Báo chí có vai trò quan trọng trong việc truyền tải các quan điểm, là công cụ của tự do biểu đạt. Trong thời kỳ hiện nay, tự do ngôn luận, tự do báo chí có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của từng cá nhân và cộng đồng; được coi là một phần biểu hiện quyền bình đẳng, dân chủ và có tác động thúc đẩy phát triển.

Phóng viên tác nghiệp. Ảnh: T.L

Phóng viên tác nghiệp. Ảnh: T.L

Vào thế kỷ XVII, triết học cơ bản về chủ nghĩa tự do có bước phát triển, con người hướng tới tự do cá nhân một cách mạnh mẽ, tự do cá nhân đã trở thành mục tiêu phấn đấu của mỗi người và của nhiều nhà nước. Tư tưởng tự do trở thành một trào lưu trong nhiều xã hội dân chủ, trong đó tư tưởng tự do báo chí, tự do tôn giáo trở thành các mục tiêu hàng đầu. Một thế kỷ sau, khoảng cuối thế kỷ XVIII, quyền tự do (trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí) đã được coi là một trong các quyền cơ bản của con người, được quy định trong hiến pháp của nhiều quốc gia.

Theo nghĩa thông thường, tự do báo chí được hiểu là thoát ly mọi sự hạn chế, mọi sự cấm đoán đối với báo chí, là một phần quan trọng của quyền con người, quyền công dân. Tuy nhiên, ở các thể chế xã hội khác nhau, trong các giai đoạn lịch sử khác nhau thì tự do báo chí cũng được giải thích, được quan niệm, được thể chế hóa, được bảo vệ và thực hiện theo các cách khác nhau. Mức độ tự do được quy định bởi lập trường xã hội, bởi mục tiêu mà con người đặt ra cho mình trong từng giai đoạn.

Đến thế kỷ XX, nhiều tuyên ngôn của các tổ chức lớn như Liên hợp quốc, hiến pháp của nhiều quốc gia, như Mỹ, Anh, Pháp đã quy định rõ về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Trong bản “Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền Pháp năm 1789” - tự do báo chí được trình bày như là một trong những quyền cơ bản: “Bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật” (Điều 11). Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 tại khoản 2, Điều 19 cũng quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ”. Khoản 3, Điều 19 cũng quy định “Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a- Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác. b- Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Khoản 1, Điều 19, Công ước nêu: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp”. Khoản 2, Điều 22 nêu: “Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hay các quyền và tự do của người khác”. Ở Anh, tất cả các bài phát biểu miệng hay đăng báo với mục đích làm mất tín nhiệm hoặc kích động chống lại chủ quyền, Chính phủ, Hiến pháp, bất cứ viện nào hoặc hệ thống tòa án, kích động sự bất bình hay sự công phẫn giữa các công dân của Nữ hoàng, sự hận thù giữa các giai cấp của các công dân đó đều bị coi là vi phạm pháp luật. Ở Mỹ, quốc gia luôn tự cho là thực hiện đầy đủ nhất khẩu hiệu tự do báo chí, cũng quy định khi báo chí vu khống, có lời lẽ thô bỉ, có khuynh hướng gây nguy hại cho thể chế dân tộc và quốc gia sẽ bị tòa án tối cao truy tố.

Như vậy, tự do báo chí ở Mỹ cũng như ở các quốc gia khác đều được quy định nhằm mục đích ngăn chặn việc lạm dụng tự do báo chí xâm phạm đến quyền tự do của cá nhân khác, chống chính quyền, lật đổ chính quyền... và được bảo đảm bằng các quy định pháp luật.

Ở Việt Nam, nhất là từ sau khi cả nước bước vào công cuộc đổi mới, những điều kiện pháp lý bảo đảm cho tự do báo chí đã từng bước được xác lập và ngày càng hoàn thiện. Năm 1989, Quốc hội thông qua Luật Báo chí. Mười năm sau, năm 1999, Quốc hội thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1989. Đây là bước hoàn thiện Luật Báo chí cho phù hợp với những yêu cầu thực tiễn của công cuộc đổi mới. Năm 2016, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung đã được Quốc hội khóa XIII thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2017. Hiến pháp năm 2013 có riêng một chương (Chương II) quy định về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó Điều 25 nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”; đồng thời cũng nêu: “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Luật Báo chí năm 2016 cũng quy định tại Chương II về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Trong đó, Điều 13 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình”; đồng thời cũng quy định: “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”. Đặc biệt khoản 3, Điều 13 quy định: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Rõ ràng, ở Việt Nam, mọi công dân đều có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong khuôn khổ pháp luật như ở các quốc gia khác.

Tránh “bẫy tự do báo chí” trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế

Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các mối quan hệ song phương, đa phương đã tạo nên sự giao thoa khá mạnh mẽ về mọi mặt trong đời sống xã hội và các mối quan hệ xã hội. Do đó, đối với bất kỳ quốc gia nào bước vào hội nhập quốc tế cũng đều phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa đẩy mạnh hội nhập quốc tế với giữ gìn bản sắc dân tộc nói chung và giữ gìn các giá trị truyền thống, các quan điểm truyền thống đối với từng lĩnh vực, từng vấn đề nói riêng. Trong lĩnh vực báo chí, Nhà nước ta luôn bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận trên cơ sở thông tin trên báo chí phải chính xác, trung thực; phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng, vì mục tiêu phát triển; phải phù hợp với lịch sử văn hóa, phong tục, tập quán, truyền thống dân tộc; phải phù hợp thông lệ quốc tế, các cam kết mà Việt Nam ký kết, tham gia; phải trong khuôn khổ pháp luật.

Quan điểm bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí là định hướng, nền tảng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật quản lý nhà nước về báo chí. Ngược lại, hoạt động quản lý nhà nước về báo chí nhằm bảo đảm để tự do ngôn luận, tự do báo chí không bị lợi dụng, không rơi vào “bẫy tự do báo chí” của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; không để lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí xâm phạm, xúc phạm các cá nhân, tập thể; bảo đảm cho tự do ngôn luận, tự do báo chí được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam ký kết, tham gia.

Giăng chiếc “bẫy tự do báo chí”, các thế lực thù địch rêu rao chúng ta không cho phép báo chí tư nhân là không có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Chúng  lợi dụng các vụ, việc một số nhà báo có hành vi vi phạm pháp luật và đạo đức người làm báo bị xử lý để cho rằng tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam bị hạn chế… Để đối phó với thực tế này và trong bối cảnh thông tin đa chiều, đặc biệt là khi người đọc không phải tìm kiếm mà thông tin được chủ động đưa đến cho người đọc (thậm chí người đọc phải tiếp nhận thông tin một cách bị động - bị gửi vào facebook, zalo, viber…) thì việc cung cấp những nguồn tin chính xác, kịp thời cho báo chí chính là cách thức nhanh nhất, hiệu quả nhất để định hướng và quản lý thông tin. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã áp dụng phương pháp quản lý vừa thuyết phục, nhắc nhở, vừa cưỡng chế bằng các chế tài, công cụ pháp luật. Thuyết phục, nhắc nhở là thông qua tổ chức định hướng thông tin thường xuyên, đặc biệt khi có các sự kiện lớn, các sự việc nhạy cảm. Cưỡng chế là ban hành và thông qua các quy định pháp luật để bảo đảm mọi công dân đều có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. 

Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, cũng như bất kỳ quốc gia nào chúng ta cũng đặt ra yêu cầu vừa phát triển quan hệ, nhanh chóng hội nhập quốc tế, vừa bảo đảm chủ quyền, độc lập dân tộc, bình đẳng, các bên cùng có lợi. Mục tiêu của báo chí cách mạng Việt Nam là vừa phục vụ nhu cầu thông tin của người dân, vừa là vũ khí chống lại các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng. Do vậy, nếu không xây dựng được một nền báo chí đủ mạnh thì sẽ không đáp trả được âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Trong quá trình hội nhập quốc tế, để đồng thời bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí, trước hết, ngay các nhà báo, các cơ quan báo chí Việt Nam phải xác định được rõ thế nào là tự do báo chí trong khuôn khổ pháp luật, các cơ quan quản lý báo chí phải định hướng và xác định rõ những “tinh hoa” cần tiếp thu và những gì là chiêu bài lợi dụng của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị để không rơi vào “bẫy tự do báo chí”.

Trong thời gian tới, để giải quyết vấn đề này, xét từ góc độ quản lý nhà nước, cần đồng thời thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ trong lĩnh vực báo chí. Hiện chúng ta đã có hệ thống pháp luật tương đối cơ bản, từ Hiến pháp đến Luật Báo chí đều đã có những quy định cụ thể về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, các văn bản dưới luật từ nghị định đến thông tư hướng dẫn chưa có sự thống nhất, đồng bộ. Đặc biệt với các hoạt động báo chí liên quan đến nước ngoài, cần có các điều khoản cụ thể, phù hợp với tình hình trong nước và các quy định quốc tế. Chất lượng, hiệu quả quản lý xã hội của nhà nước pháp quyền phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Vì vậy, yêu cầu về một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, thống nhất trong lĩnh vực báo chí là hết sức cần thiết.

Hai là, xây dựng được một chuẩn mực đạo đức nghề báo chung, khuyến khích từng cơ quan báo chí chủ động xây dựng các quy định, chuẩn mực phù hợp trên cơ sở chuẩn mực đạo đức nghề báo chung, đồng thời làm tốt việc giám sát thực hiện các quy định này, phối hợp với các cơ quan hữu quan nghiêm khắc, kịp thời xử lý các nhà báo, cơ quan báo chí có vi phạm.

Ba là, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về báo chí đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ hội nhập quốc tế: có trình độ chuyên môn, có kỹ năng quản lý khoa học, hiệu quả, có khả năng sử dụng công nghệ, ngoại ngữ và có tư tưởng chính trị vững vàng...

Bốn là, đổi mới tư duy quản lý, phương thức quản lý, rà soát các nội dung quản lý phù hợp với tình hình thực tế. Xác định rõ các nguyên tắc làm việc thông qua các quy định, quy chế và bảo đảm thực hiện nghiêm túc; bảo đảm có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa cơ quan chỉ đạo, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chủ quản, người đứng đầu cơ quan báo chí ở cả Trung ương và địa phương. Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí cần chủ động phối hợp bằng nhiều hình thức với các cơ quan chủ quản các cơ quan báo chí trong thực hiện quản lý nhà nước về báo chí; ở địa phương, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các sở thông tin và truyền thông phát huy vai trò chủ động trong quản lý nhà nước về báo chí trong phạm vi địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ nhằm bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Năm là, thường xuyên thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm minh, kịp thời các vi phạm. Thanh tra, kiểm tra là nhiệm vụ quan trọng, là một công cụ quản lý không thể thiếu của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí. Hoạt động này tốt, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng cao, ngược lại, hoạt động này chưa tốt thì hiệu quả quản lý nhà nước cũng bị hạn chế... Hoạt động thanh tra, kiểm tra cần được thực hiện vừa thường xuyên, vừa đột xuất, và đồng bộ trên mọi mặt, cả tài chính kinh tế, công tác tổ chức, nhân sự, đặc biệt là thông tin trên báo chí.

Sáu là, tích cực đẩy mạnh hợp tác quốc tế để học hỏi các kinh nghiệm quản lý hoạt động báo chí của các nước. Việc áp dụng một số phương pháp vào thực tế quản lý báo chí ở Việt Nam đã cho thấy hiệu quả.

Thực hiện tốt nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý báo chí sẽ bảo đảm cho sự thống nhất về tư tưởng, giúp báo chí hoàn thành nhiệm vụ chính trị, không bị động trước sự tấn công của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trên mặt trận tư tưởng, tránh được “bẫy tự do báo chí”, đồng thời bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí và thúc đẩy sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ hội nhập quốc tế./. 

Theo tapchicongsan.org.vn

Xem thêm

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

(NB&CL) Trong thời đại người trẻ có thể tiếp cận tri thức chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại, nhưng cũng dễ bị cuốn vào những luồng thông tin sai lệch và cách ứng xử lệch chuẩn, giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống đòi hỏi những cách làm thiết thực hơn. Làm sao để những giá trị được dạy trong nhà trường trở thành bản lĩnh và trách nhiệm trong cuộc sống? Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 20/7/2026 của Ban Bí thư về tăng cường giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân đặt ra yêu cầu cấp thiết ấy.

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

(CLO) Đòi hỏi người tài phải cam kết đầu ra, phải có sản phẩm đột phá nhưng bộ máy giao việc lại đứng ngoài vòng phán xét, đó là căn bệnh vô cảm của cơ chế đánh giá một chiều. Khi một công trình nghìn tỷ đắp chiếu hay một nhà khoa học dứt áo ra đi, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy được định lượng bằng thước đo nào? Các quyết sách lịch sử của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đã tuyên chiến với sự né tránh: Trách nhiệm phải được truy xuất sòng phẳng ở cả hai đầu. Trọng dụng nhân tài không còn là việc chiêu mộ thuần túy mà chính là bản lĩnh chính trị và danh dự của người cầm quyền.

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

(CLO) Đãi ngộ tài chính vượt khung có thể tạo ra sức hút ban đầu nhưng không bao giờ giữ chân được người tài nếu họ thiếu một mảnh đất thực chiến để vẫy vùng sáng tạo. Hàng chục ngàn công chức, trí thức rời khu vực công cùng những đề án nghìn tỷ đắp chiếu đã để lại bài học đau xót: Với người thực tài, “đất lành” không nằm ở lời hứa đãi ngộ hay chiếc ghế an phận mà nằm ở bài toán xứng tầm, hạ tầng đồng bộ và cơ chế bảo vệ rủi ro. Đột phá của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV chính là việc xác lập “văn hóa trọng dụng” thành một trụ cột độc lập; mở đường cho thể chế dung dưỡng đổi mới sáng tạo, biến môi trường làm việc thực chất thành bệ phóng để nhân tài ở lại cống hiến dài lâu.

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

(CLO) Văn hóa trong Đảng không chỉ thể hiện qua đạo đức, tác phong của mỗi cán bộ, đảng viên, mà còn được nhận ra từ cách tổ chức lãnh đạo, cách người có chức vụ sử dụng quyền hạn và cách công việc được giải quyết vì lợi ích chung. Quy định số 19-QĐ/TW đặt yêu cầu xây dựng văn hóa trong Đảng gắn với lý tưởng phát triển đất nước, chuẩn mực đạo đức cách mạng, văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ và tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Điều quan trọng là những yêu cầu ấy phải bước ra khỏi văn bản, trở thành cách nghĩ, cách làm và những chuyển biến người dân có thể cảm nhận trong cuộc sống.

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

(CLO) Đem chuyên gia đầu ngành đặt vào chiếc ghế hành chính sự vụ, bắt nhà khoa học phải đối thoại bằng ngôn ngữ của tờ trình và quy trình duyệt chi, đó là bi kịch lớn nhất của sự lãng phí chất xám. Khi nấc thang danh vọng trong hệ thống công suốt nhiều năm chỉ có một lối rẽ duy nhất là đường quan lộ, tài năng tất yếu bị mài mòn giữa những cuộc họp hành vụn vặt. Nghị quyết số 30-NQ/TW và Kết luận số 105-KL/TW đã dũng cảm khai thông nhận thức luận: Trọng dụng người tài không đồng nhất với bổ nhiệm chức vụ quản lý; thiết lập “hai làn đường” phát triển song hành và cơ chế khoán việc trao quyền chính là lời giải cho sự thăng hoa của trí tuệ.

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

(CLO) Rầm rộ trải thảm đỏ đón người tài nhưng lại lúng túng khi xếp chỗ làm việc; chi đậm ngân sách cho những gói đãi ngộ ban đầu nhưng buông lỏng hoàn toàn khâu tạo dựng môi trường để họ dấn thân dài hạn. Nghịch lý “trọng mời, nhẹ dùng” suốt nhiều năm qua đã biến không ít đề án nhân tài thành những bản báo cáo số lượng hình thức, tô hồng thành tích nhiệm kỳ. 

Đổi mới cách bảo vệ công trình quan trọng về an ninh quốc gia

Hôm nay, Quốc hội thảo luận tại tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi)

(CLO) Hôm nay (25/10), Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI tiếp tục bước sang tuần làm việc thứ 2 với nhiều dự án luật quan trọng. Trong đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), Luật An ninh dữ liệu, Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

(NB&CL) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh, nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia. Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược làm định hướng cao nhất. Từ tinh thần ấy, Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững được ban hành, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về nguồn lực con người.

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

(NB&CL) Một người đảng viên có thể trở thành doanh nhân giỏi, tạo ra sản phẩm có ích, giải quyết việc làm cho người lao động và đóng góp cho ngân sách. Nhưng nếu lợi thế kinh doanh đến từ chức vụ đang nắm giữ, thông tin có được nhờ công vụ hay khả năng chi phối những quyết định quản lý, câu chuyện đã vượt khỏi phạm vi làm giàu thông thường. Khi ấy, điều cần được xem xét không chỉ là khoản lợi nhuận thu về, mà còn là nguồn gốc của lợi thế tạo nên khoản lợi nhuận đó.

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

(CLO) Vụ nam sinh hành hung cô giáo ngay trên bục giảng tại Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Hà Nội, được phản ánh trong hai ngày qua, một lần nữa khiến dư luận bàng hoàng, đồng thời gợi lên câu hỏi không thể né tránh: Vì sao những hành vi xúc phạm, thậm chí bạo lực với thầy cô vẫn xảy ra trong môi trường giáo dục? Đổ hết lỗi cho học sinh là chưa đủ; nhưng nếu chỉ yêu cầu giáo viên phải thấu hiểu, bao dung và đổi mới, chúng ta cũng cần tự hỏi đã làm gì để bảo vệ người đang đứng trên bục giảng.

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

(CLO) Bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phụ nữ Việt Nam không còn chỉ đóng vai trò là hậu phương vững chắc. Vượt qua những định kiến giới cũ kỹ, phụ nữ Việt Nam ngày nay đang tạo nên những bước chuyển mình ngoạn mục từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" xã hội. Bằng trí tuệ, sự nhạy bén và khát vọng cống hiến mạnh mẽ, những người phụ nữ thời đại mới đang tự tin bước ra thế giới, khẳng định vị thế chủ thể trên mọi lĩnh vực chủ chốt từ chính trị, kinh tế số cho đến ngoại ngữ và khoa học công nghệ.

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

(CLO) Từ những nữ doanh nhân chèo lái tập đoàn nghìn tỷ trong nền kinh tế số, các nhà khoa học nữ sở hữu công trình tầm cỡ quốc tế, cho đến những nữ chiến sĩ mũ nồi xanh kiên cường tại các phái bộ Liên Hợp Quốc... phụ nữ Việt Nam hôm nay đang viết nên một định nghĩa mới về bản lĩnh. Không còn bị trói buộc bởi những định kiến cũ kỹ, họ chủ động làm chủ công nghệ, đón đầu xu thế và tỏa sáng rực rỡ trong kỷ nguyên mới, trở thành động lực thúc đẩy hành trình vươn mình mạnh mẽ của toàn dân tộc.

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

(NB&CL) Bộ VHTTDL vừa ra mắt “Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam” và công bố 17 sáng kiến phát triển ngành năm 2026. Mạng lưới được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực, chia sẻ cơ hội hợp tác và thúc đẩy những sáng kiến mới, góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các định hướng thành chương trình hợp tác cụ thể, đưa ý tưởng thành sản phẩm có giá trị và tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước, quốc tế.

Việc đã rõ phải làm ngay

Việc đã rõ phải làm ngay

(NB&CL) Việc đã xác định rõ thì phải bắt tay thực hiện, vướng mắc phải được tháo gỡ, trách nhiệm phải được xác định đến cùng. Từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, 3 chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với quá trình tổ chức thực hiện các quyết sách: không để công việc chậm trễ vì né tránh, đùn đẩy, không để những vấn đề đã có hướng giải quyết tiếp tục ách tắc, mà phải tạo chuyển biến thực chất trong từng nhiệm vụ, từng lĩnh vực, để người dân và doanh nghiệp sớm nhận thấy kết quả.

Sau cuộc trở về là một lời hứa

Sau cuộc trở về là một lời hứa

(CLO) 731 liệt sĩ được đưa về nơi an nghỉ sau gần 60 năm. Nhưng sự tri ân không thể khép lại cùng một lễ truy điệu. Điều phải ở lại là lời hứa của những người đang sống: không quên quá khứ và xây dựng một đất nước xứng đáng với sự hy sinh ấy.

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

(NB&CL) Có một Hà Nội rất dễ nhận ra qua những câu chuyện hàng ngày, như tắc đường, mưa xuống là lo ngập, những dự án kéo dài, trường học quá tải... Nhưng nếu chỉ nhìn Thủ đô từ những điều ấy, sẽ khó thấy một chuyển động đang diễn ra khá rõ trong thời gian gần đây: Hà Nội đang thay đổi cách nghĩ về con đường phát triển của chính mình.

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

(NB&CL) Sự xuất hiện của những hội nhóm mang tên như “Hội những người từng đi tù”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” hay gần đây là “Con ghét bố mẹ” đang thu hút sự quan tâm lớn trên mạng xã hội. Đặc biệt, hội nhóm “Con ghét bố mẹ” đã thu hút sự quan tâm khi có hàng trăm nghìn thành viên. Nhiều bài viết chia sẻ những mâu thuẫn, tổn thương trong quan hệ giữa con cái và cha mẹ.

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?

Cỡ chữ bài viết: