Tranh cãi việc du học sinh về Việt Nam hay ở nước ngoài: Cần thay đổi tư duy

Dư luận dường như vẫn chưa ngừng băn khoăn trước những “chuyến di cư một đi không trở lại” đến môi trường giáo dục quốc tế của các DHS. Chuyện DHS “ở hay về”, mấu chốt vấn đề ở đâu?

(NBCL) Dư luận dường như vẫn chưa ngừng băn khoăn trước những “chuyến di cư một đi không trở lại” đến môi trường giáo dục quốc tế của các DHS. Chuyện DHS “ở hay về”, mấu chốt vấn đề ở đâu?

Nhân tài du học về nước có phát huy được tài năng?

Câu chuyện du học sinh Việt sang nước ngoài du học rồi ở lại đó làm việc mà không về cống hiến cho đất nước đang khiến dư luận đặc biệt quan tâm. Nhất là khi có phát ngôn của anh Nguyễn Thành Vinh – Á quân Đường lên đỉnh Olympia khi cho rằng về nước là sự lãng phí khi môi trường và cơ chế làm việc ở Việt Nam chưa phù hợp cho người thực tài phát triển giá trị và năng lực bản thân thì nhiều ý kiến tranh luận xung quanh vấn đề này càng trở lên nóng bỏng.

Việt Nam cần cải thiện môi trường để các trí thức lớn phát huy được hết sức mình.
Việt Nam cần cải thiện môi trường để các trí thức lớn phát huy được hết sức mình.

Nhiều ý kiến đồng tình khi dẫn chứng câu chuyện của anh Doãn Minh Đăng - cựu quán quân Đường lên đỉnh Olympia, giảng viên trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ gặp phải trong việc “hòa nhập” với môi trường làm việc trong nước. Nói như Nguyễn Thành Vinh, về nước, lương bổng chỉ vài triệu, mà ai cũng có gia đình để lo lắng, chắc chắn phải đi làm thêm, dạy thêm. Như thế, họ làm gì có khoảng trống nào để nghiên cứu khoa học, thứ mà họ luôn có sẵn ở môi trường nước ngoài. Hãy thử nhìn vào đội ngũ các nhà khoa học Việt Nam hiện thời, chúng ta sẽ càng hiểu hơn. Một năm họ mang lại bao nhiêu công trình khoa học hữu ích thực sự? Nhưng điều quan trọng là không phải họ kém cỏi, lười biếng hay an phận thủ thường mà cơ bản là các cơ sở khoa học ở Việt Nam không thể đáp ứng nổi nhu cầu nghiên cứu khoa học của họ. Các viện, các trung tâm khoa học hiện nay chỉ mong đủ kinh phí để tồn tại đã là quý lắm rồi, lấy đâu ra nguồn vốn mà tài trợ cho các nhà khoa học nhiều khát vọng. Bởi vậy, nếu đặt câu hỏi cho người điều hành một viện nghiên cứu khoa học nào đó, về chuyện thực sự những nhà khoa học trẻ có nên trở về làm việc ở trong nước hay không, chắc câu trả lời chân thành mà ta nhận được sẽ là không nên, bởi về rồi thui chột, rồi bất mãn, rồi sinh ra phản ứng, như Doãn Minh Đăng đã làm.

Chúng ta từng đón nhận hân hoan tin tức Ngô Bảo Châu được giải Fields, và chúng ta vẫn biết GS. Ngô Bảo Châu được giải ấy nhờ công trình nghiên cứu ở nước ngoài. Giả sử, hồi đó, Ngô Bảo Châu về nước, chắc chúng ta chỉ có một Ngô Bảo Châu nhà giáo, mà chưa chắc đã là nhà giáo giỏi, khi nhiệt huyết thực sự không còn.

Nếu chúng ta có một đứa con, học khoa học ở Âu hay Mỹ, và tốt nghiệp rồi, có lựa chọn ở lại làm việc cho nước ngoài, nơi có điều kiện phát triển nghề nghiệp hơn, chúng ta sẽ khuyên thế nào? Cha mẹ chẳng ai muốn xa con cả. Nhưng nếu sự xa cách ấy mang lại một tương lai tốt đẹp hơn cho con, cha mẹ sẽ biết hy sinh. Tổ quốc cũng là cha mẹ, và Tổ quốc có quyền đòi hỏi công dân hy sinh vì mình, với tinh thần trách nhiệm, với danh dự của một người công dân thì Tổ quốc cũng đã nhiều lần biết hy sinh để người dân của Tổ quốc có một tương lai tốt đẹp hơn.

Việt Nam đã từng đón nhận những làn sóng trí thức về phục vụ Tổ quốc nhiều lần rồi, và sau đó chúng ta cũng có những kinh nghiệm trải qua mà cuối cùng, đến hôm nay, vẫn chưa có hướng nào để khắc phục kinh nghiệm ấy. Vậy thì những nhà khoa học trẻ, nếu họ đi du học bằng chính đồng tiền họ bỏ ra, hoặc bằng khả năng của họ trong việc xin học bổng từ các quỹ, các trường, các tổ chức, có lẽ ta không nên can thiệp vào tương lai của họ bằng cái áp lực ái quốc. Họ ở xa, mà họ có công trình xứng đáng, được thế giới ghi nhận, đó mới chính là ái quốc, bằng cách vinh danh Tổ quốc mình trên các bảng vàng. Còn trường hợp họ đi bằng tiền của Nhà nước thì hoàn toàn khác, lúc đó, Nhà nước phải xem lại chính khả năng sử dụng nhân tài của mình, khi để nhà khoa học có tài trở về và làm cái việc vô cùng tầm thường là mưu sinh như triệu người khác.

Việt Nam vẫn luôn cần những trí thức lớn. Nhưng Việt Nam cũng cần cải thiện môi trường để các trí thức lớn phát huy được hết sức mình. Lúc đó, hai chữ cống hiến mới thực sự mang lại giá trị và ý nghĩa đúng đắn như nó vốn có.

Thất bại không phải do “môi trường”

Nguyễn Chí Hiếu - chàng sinh viên trong top 3 sinh viên giỏi nhất nước Anh năm 2004, sau nhiều năm làm trong lĩnh vực tài chính ở Mỹ, Anh nhưng trong Hiếu vẫn  luôn thôi thúc muốn về quê hương lập nghiệp theo con đường riêng.

Nguyễn Chí Hiếu chia sẻ: “Đã có lúc tôi nghĩ mình khi trở về nước sẽ không thích nghi được với cuộc sống, công việc sau một thời gian học tập và làm việc ở nước ngoài. Nhưng khi trở lại, tôi đã theo đuổi được mong ước của mình và cống hiến cho những việc cần làm trong cuộc đời của mình”.

Trước thực tế người tài ở Việt Nam đi du học thường ít người trở về phục vụ đất nước, PGS.Trần Xuân Nhĩ - nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT cho rằng, “lẽ ra người tài phải phục vụ đất nước, nhưng người tài của chúng ta chỉ thích ở nước ngoài đó là một thực tế buồn. Ông cha ta đã có câu “hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, trước thực trạng hàng năm nước ta tiêu tốn rất nhiều tiền của du học, nhưng rất ít du học sinh mang những điều học được ở các nước tiên tiến về xây dựng, phát triển đất nước”.

“Tôi cho rằng cách sử dụng người tài của nước ta và môi trường hoạt động không tạo điều kiện để họ phát triển khả năng nên họ không về. Chính sách đãi ngộ hiện nay còn bất cập, đãi ngộ không đủ họ nuôi con, chi phí sinh hoạt thì sao họ yên tâm công tác. Đó là thực tế, nhưng bản thân người tài thì đi đâu, ở đâu cũng sống rất đàng hoàng, đầy đủ. Theo đó, muốn thu hút người tài một cách thực sự thì hãy cho họ một môi trường làm việc tốt, được coi trọng đúng mức”, PGS Trần Xuân Nhĩ cho biết thêm.

Cần thay đổi tư duy?

Quay lại chuyện du học xong về hay ở lại nước ngoài, đương nhiên đây là lựa chọn cá nhân. Nhưng cần phải dứt khoát phải thay đổi tư duy “nhân tài” với “hiền tài”, “nguyên khí”… không nên tư duy kiểu cứ học nhiều là nhân tài. Một tiến sĩ học ở nước ngoài về với một nghệ nhân làm bánh giỏi, chưa đi nước ngoài bao giờ đều đáng giá như nhau. Mỗi người có giá trị riêng.

Cái sai bắt đầu từ việc gắn cho những người du học là “nhân tài”, rồi từ đó mới nảy sinh vấn đề trọng dụng nhân tài, rồi biệt đãi, rồi về hay ở.

Nhiều người nói không về vì về thì “không có môi trường cống hiến”, nghe đã không ổn, không thực tế. Chính xác là họ cần môi trường để khẳng định giá trị bản thân, có vị thế trong xã hội, từ đó dẫn đến danh tiếng và lợi ích. Nếu diễn giải như thế, thì về hay ở, du học hay học trường đời đều hữu ích. Ai cũng sẽ có đất dụng võ theo sở trường và gặt hái giá trị tương đương.

Nếu giỏi thực sự thì ở đâu cũng có đất sống và vui sống được. Làm giảng viên đại học không được, thì bạn tạo dự án, thuyết phục nhà đầu tư, dạy học, tư vấn, làm dịch vụ… Đâu cứ phải cố sống cố chết để len vào một hệ thống nào, một cơ quan nào… rồi kêu ca bị bạc đãi.Việc học, trên hết là để biết cách sống hạnh phúc và tạo cơ hội cho mình trong bất cứ hoàn cảnh và môi trường nào. Xã hội không cần “nhân tài”, mà cần người hiểu biết.❏

Khánh An

GS Văn Như Cương: Có một thực tế, hiện nay nhìn chung điều kiện trong nước vẫn còn nhiều khó khăn, lương bổng ít nhưng tất cả mọi người đều như thế. Có điều anh có thích nghi được và phát huy những kiến thức mà anh đã học được từ nước ngoài hay không. Trên thực tế, có nhiều du học sinh về nước, họ đã có những công trình nghiên cứu mang lại nhiều công ăn việc làm cho nhiều người, đóng góp mang lại lợi ích kinh tế cho đất nước và thành công cho bản thân họ. Nếu họ cũng suy nghĩ như thế thì đâu có được thành tựu như vậy. Ai cũng biết, môi trường ở nước ngoài có nhiều cơ hội tìm việc làm tốt, có nhiều điều kiện để phát triển nghiên cứu khoa học và những người có năng lực bao giờ cũng được trả công xứng đáng đúng với những thành quả mà họ tạo ra. Tuy nhiên, ở môi trường trong nước và nước ngoài đều có những khó khăn riêng, mỗi người phải thích nghi thì mới có thể phát triển.

TS Lê Trường Tùng (Chủ tịch HĐQT đại học FPT): Đi du học  và sau đó rất nhiều bạn ở lại không về thì hiển nhiên là đất nước có vấn đề. Trách nhiệm thuộc về ai thì những người đó phải trăn trở nhiều hơn. Chẳng hạn nếu tại một địa phương, người tài cứ đi không về thì trước hết các tân Bí thư, tân Chủ tịch mới được bầu phải băn khoăn trăn trở tìm lời giải. Băn khoăn của lãnh đạo khác băn khoăn của phụ huynh, và băn khoăn của người dân nói chung. Việc thay đổi cơ chế để “chim” về đậu nhiều hơn thì trách nhiệm trước hết là của lãnh đạo. Làm sao cho đất lành hơn, để “chim Việt” tụ về một cách hồ hởi, tự nguyện. Khi “đất chưa lành” nhiều, một số “chim Việt” đang đậu đâu đó mưu cầu hạnh phúc là thông cảm được.

PGS.TS Lê Anh Vinh - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Khoa học giáo dục (ĐH Giáo dục, ĐH Quốc Gia Hà Nội): Nhiều người tài đang dành quá nhiều thời gian vào việc ca thán và so sánh về điều kiện, môi trường làm việc mà chưa nhận thức được rằng, bản thân họ phải tự có trách nhiệm để làm thay đổi tích cực môi  trường, xã hội xung quanh. Trong những tranh luận ồn ào trên các phương tiện thông tin đại chúng gần đây về hiện tượng chảy máu chất xám, người tài “một đi không trở lại” xây dựng đất nước, chúng ta có thể thấy rằng lợi ích về vật chất không phải là lý do cơ bản. Rất nhiều du học sinh đã bày tỏ quan điểm mong muốn về nước công tác để đóng góp nhưng lại lo lắng về môi trường làm việc không phù hợp. Rõ ràng các nhà khoa học trẻ chúng ta không thể yêu cầu các trường ĐH, Học viện nghiên cứu phải có cơ sở vật chất hoàn hảo, kinh phí ngân sách dồi dào thì mới làm khoa học mà chúng ta phải đóng một vai trò tích cực tạo ra một môi trường nghiên cứu phù hợp.

GS-TSKH Đào Trọng Thi - Chủ nhiệm UB Văn hóa- Giáo dục- Thanh thiếu niên Nhi đồng của Quốc hội: Vấn đề lớn nhất ở đây là do cơ chế, môi trường làm việc của Việt Nam chưa thích hợp cho người thực tài phát triển. Do đó, dù có thu hút được người giỏi về nước cũng không có “đất” cho họ thi thố tài năng. Nền kinh tế của chúng ta phát triển chưa cao, do đó việc sử dụng hiệu quả những nhà khoa học có hàm lượng chất xám cao cũng bị hạn chế. Thứ hai, kể cả chúng ta đưa ra một cơ chế đặc thù để ưu đãi người tài nhưng không sử dụng hết năng lực của họ thì đó không chỉ là sự bất công mà còn làm thui chột tài năng của họ. Hiện nay du học sinh đi du học phần lớn là tự túc hoặc xin học bổng ngoài ngân sách vì thế họ không có trách nhiệm phải quay trở về.

Bốn lý do khiến nhiều du học sinh ngại trở về

Trao đổi về vấn đề du học sinh ngại trở về, GS Nguyễn Minh Thuyết  – nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội cho rằng:

Trong số những người Việt Nam đi du học nước ngoài có người thích sống ở nước ngoài nhưng không phải ai cũng thích sống ở nước ngoài. Vì vậy, chuyện nhiều bạn trẻ không muốn trở về nước hẳn có nguyên do khác.

GS Nguyễn Minh Thuyết đưa ra 4 lý do khiến nhiều du học sinh ngại trở về:Thứ nhất, nếu du học sinh trở về thì liệu họ có kiếm được việc làm không? Đây là điều hoàn toàn không hề dễ dàng, vì hiện nay để kiếm được việc làm, nhất là trong khối cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, cần phải chi tiền, mà số tiền đó không hề nhỏ.

Trong khi đó, nếu ở lại nước ngoài, họ hoàn toàn có thể tìm được công ăn việc làm, miễn là đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn của các tổ chức, công ty nước đó hoặc nước khác.

Thứ hai, giả sử họ về nước, có tiền để “chạy” việc và “chạy” được thật chứ không bị lừa thì thu nhập từ công việc đó lại rất thấp, khiến họ không đủ trang trải cuộc sống. Tương lai này dĩ nhiên các bạn sinh viên, nghiên cứu sinh mới ra trường không mong muốn chút nào.

Thứ ba, giả sử các du học sinh có chấp nhận thu nhập thấp để làm việc thì cơ hội phát triển cũng rất ít vì cơ hội đó hiện đang phụ thuộc vào thứ tự “hậu duệ- tiền tệ- quan hệ”. Điều này có nghĩa là dù có kiến thức chuyên môn giỏi mấy thì cơ hội phát triển may lắm cũng chỉ giống như chơi xổ số thôi.

Trong khi đó, ở nước ngoài, cơ hội phát triển luôn mở cho những người có chuyên môn giỏi, quyết tâm cao.

Thứ tư, các du học sinh không muốn trở về vì không muốn sống trong một xã hội chưa văn minh. Sống trong nước, họ thấy từ chuyện bé nhất như tham gia giao thông, an toàn thực phẩm, làm xác nhận nọ kia cho đến chuyện lớn như mua đất, xây nhà…, quyền con người, quyền công dân lúc nào cũng dễ dàng bị xâm phạm mà xử lý thì rất chậm.

Nhiều năm trước, có vị đại biểu Quốc hội là một luật sư nổi tiếng đã thẳng thừng nhận xét rằng ta có cả một rừng luật nhưng lại sống theo luật… khác. Cho đến hôm nay, thực tế cuộc sống vẫn không khác nhiều so với cách chơi chữ của vị Đại biểu này.Tuy nhiên, đối với du học sinh tự túc kinh phí thì việc ở lại hay trở về là quyền cá nhân của họ. Nhưng đối với những anh chị em du học bằng tiền ngân sách nhà nước hay bằng học bổng của các tổ chức, đơn vị thì cần phải cư xử sòng phẳng, đàng hoàng, theo đúng hợp đồng, kể cả hợp đồng miệng. Những bạn đó cần phải về nước phục vụ đủ số năm theo quy định hoặc trả lại số tiền đã được cấp. Học bổng Nhà nước là tiền thuế của dân, tiền của tổ chức, đơn vị đã cấp cũng là tiền của tập thể. Không có lý do gì mà người dân hay các thành viên trong một tổ chức, đơn vị lại phải đài thọ để các bạn đi học rồi ở lại nước ngoài.

Thùy Linh (giaoduc.net)

Dừng lại hay làm tiếp?

Ít vụ kiện nào mà bên thắng cuộc lại cảm thấy “mất mát” như vụ đòi bồi hoàn kinh phí của TT Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Đà Nẵng.Với những người bị kiện và gia đình họ thì cảm giác còn buồn hơn nữa, không phải chỉ đơn thuần vì thua kiện, mà còn vì tầng tầng tâm tư mà người ngoài cuộc không thể hiểu được. Những người vi phạm hợp đồng này nhiều khi không hẳn là ở lại nước ngoài làm việc để có mức thu nhập cao hơn, mà có thể là do nhận được học bổng để học tiếp lên cao hơn. Trong trường hợp đó, họ được cử đi học để nâng cao năng lực, nhưng lại vi phạm hợp đồng và bị kiện vì lý do tương tự. Một số khác chọn cách ở lại, có thể không vì để học cao hơn, nhưng lại do hoàn cảnh cá nhân cưỡng ép, như đã lập gia đình trong thời gian du học và không thể trở về nếu không muốn ảnh hưởng đến gia đình. Một số khác ở lại có thể vì họ nhìn thấy trước một tương lai không mấy sáng sủa, nếu trở về thì sẽ không làm được gì, vì thế chấp nhận bồi hoàn kinh phí, hoặc thậm chí là bị kiện.

Nhìn sâu hơn, những người bị ảnh hưởng trong trường hợp này sẽ không chỉ là bên nguyên và bên bị, mà là những người dân đóng thuế vào ngân sách để thực hiện đề án này. Những người dân đóng thuế đến từ mọi tầng lớp, có thể là những người vẫn còn rất khó khăn. Họ đã tham gia đề án này như một nhà đầu tư dưới dạng tiền thuế của mình. Vậy họ sẽ nghĩ gì khi khoản đầu tư của mình không được thực hiện như cam kết? Thực tế là, không ai giậm chân tại chỗ, không thay đổi. Người mà các cơ quan ký hợp đồng đào tạo và người sau khi được đào tạo, tuy cùng tên gọi và đặc điểm sinh học, nhưng nhận thức hoàn toàn khác nhau. Vì thế, những thỏa thuận đã đạt được với người cũ, nhiều khả năng sẽ trở thành bất cập với người mới. Vậy thì vì sao lại xảy ra tình trạng này? Hẳn phía sau nó phải chứa những điều bất hợp lý mà nếu không xem xét để khắc phục, thì sẽ tái diễn có thể ở chính Đà Nẵng, hoặc ở nhiều địa phương khác.

Nhìn rộng hơn, chuyện của Đà Nẵng chỉ là một phần nổi rất nhỏ của tảng băng trôi, khi các tỉnh thành khác cũng gặp những vấn đề tương tự, nhưng không hoặc chưa biết giải quyết thế nào, hoặc có giải quyết cũng không hiệu quả. Việc xem xét những điều bất hợp lý này, trực diện nhất là trước thực tế như vậy, có nên tiếp tục các dự án sử dụng ngân sách để cử cán bộ đi đào tạo? Nếu tiếp tục thì cần thay đổi gì để tạo hiệu quả tốt hơn? Dù dừng lại hay làm tiếp thì điều cần nhất trước khi đưa ra quyết định này là tiến hành một nghiên cứu xem hiệu quả của dự án này từ trước đến nay ra sao. Nếu thấy thực sự không hiệu quả, thì thảnh thơi dừng lại, để tiền đầu tư đó cải thiện môi trường làm việc. Thực tế cho thấy, khi có môi trường phù hợp, nhân tài sẽ tự đổ về. Còn nếu không có môi trường như vậy, thì dù lôi kéo, ưu đãi thời gian đầu, trước sau gì nhân tài cũng lại ra đi.

Từ kinh nghiệm cá nhân, người viết thấy rằng đầu tư để đào tạo nhân lực là cần thiết. Nhiều nước cũng đã làm như vậy. Vấn đề là làm sao cho hiệu quả, và quan trọng hơn, là sau khi đào tạo thì sử dụng thế nào, cần tạo môi trường chính sách gì để người được đào tạo có thể phát huy được năng lực của mình. Như thế, câu hỏi sẽ thu gọn lại thành: cần cải thiện gì để chương trình đào tạo này hợp lý và hiệu quả hơn, tránh được những kiện tụng không muốn như hiện giờ?

Báo Đất Việt

Xem thêm

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

Chỉ thị số 10-CT/TW: Để lý tưởng, đạo đức trở thành hành động

(NB&CL) Trong thời đại người trẻ có thể tiếp cận tri thức chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại, nhưng cũng dễ bị cuốn vào những luồng thông tin sai lệch và cách ứng xử lệch chuẩn, giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống đòi hỏi những cách làm thiết thực hơn. Làm sao để những giá trị được dạy trong nhà trường trở thành bản lĩnh và trách nhiệm trong cuộc sống? Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 20/7/2026 của Ban Bí thư về tăng cường giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân đặt ra yêu cầu cấp thiết ấy.

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

Kỳ 4: Trách nhiệm của "người mở cửa"

(CLO) Đòi hỏi người tài phải cam kết đầu ra, phải có sản phẩm đột phá nhưng bộ máy giao việc lại đứng ngoài vòng phán xét, đó là căn bệnh vô cảm của cơ chế đánh giá một chiều. Khi một công trình nghìn tỷ đắp chiếu hay một nhà khoa học dứt áo ra đi, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy được định lượng bằng thước đo nào? Các quyết sách lịch sử của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đã tuyên chiến với sự né tránh: Trách nhiệm phải được truy xuất sòng phẳng ở cả hai đầu. Trọng dụng nhân tài không còn là việc chiêu mộ thuần túy mà chính là bản lĩnh chính trị và danh dự của người cầm quyền.

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

Kỳ 3: Đất dụng võ mới là đất lành

(CLO) Đãi ngộ tài chính vượt khung có thể tạo ra sức hút ban đầu nhưng không bao giờ giữ chân được người tài nếu họ thiếu một mảnh đất thực chiến để vẫy vùng sáng tạo. Hàng chục ngàn công chức, trí thức rời khu vực công cùng những đề án nghìn tỷ đắp chiếu đã để lại bài học đau xót: Với người thực tài, “đất lành” không nằm ở lời hứa đãi ngộ hay chiếc ghế an phận mà nằm ở bài toán xứng tầm, hạ tầng đồng bộ và cơ chế bảo vệ rủi ro. Đột phá của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV chính là việc xác lập “văn hóa trọng dụng” thành một trụ cột độc lập; mở đường cho thể chế dung dưỡng đổi mới sáng tạo, biến môi trường làm việc thực chất thành bệ phóng để nhân tài ở lại cống hiến dài lâu.

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

Xây dựng văn hóa trong Đảng - Để chuẩn mực trở thành sức mạnh từ bên trong

(CLO) Văn hóa trong Đảng không chỉ thể hiện qua đạo đức, tác phong của mỗi cán bộ, đảng viên, mà còn được nhận ra từ cách tổ chức lãnh đạo, cách người có chức vụ sử dụng quyền hạn và cách công việc được giải quyết vì lợi ích chung. Quy định số 19-QĐ/TW đặt yêu cầu xây dựng văn hóa trong Đảng gắn với lý tưởng phát triển đất nước, chuẩn mực đạo đức cách mạng, văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ và tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Điều quan trọng là những yêu cầu ấy phải bước ra khỏi văn bản, trở thành cách nghĩ, cách làm và những chuyển biến người dân có thể cảm nhận trong cuộc sống.

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

Kỳ 2: Trọng dụng nhân tài: “Tùy tài mà dùng người”

(CLO) Đem chuyên gia đầu ngành đặt vào chiếc ghế hành chính sự vụ, bắt nhà khoa học phải đối thoại bằng ngôn ngữ của tờ trình và quy trình duyệt chi, đó là bi kịch lớn nhất của sự lãng phí chất xám. Khi nấc thang danh vọng trong hệ thống công suốt nhiều năm chỉ có một lối rẽ duy nhất là đường quan lộ, tài năng tất yếu bị mài mòn giữa những cuộc họp hành vụn vặt. Nghị quyết số 30-NQ/TW và Kết luận số 105-KL/TW đã dũng cảm khai thông nhận thức luận: Trọng dụng người tài không đồng nhất với bổ nhiệm chức vụ quản lý; thiết lập “hai làn đường” phát triển song hành và cơ chế khoán việc trao quyền chính là lời giải cho sự thăng hoa của trí tuệ.

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

Kỳ 1: Gần 80 năm một trăn trở: “Nghe không đến, thấy không khắp”

(CLO) Rầm rộ trải thảm đỏ đón người tài nhưng lại lúng túng khi xếp chỗ làm việc; chi đậm ngân sách cho những gói đãi ngộ ban đầu nhưng buông lỏng hoàn toàn khâu tạo dựng môi trường để họ dấn thân dài hạn. Nghịch lý “trọng mời, nhẹ dùng” suốt nhiều năm qua đã biến không ít đề án nhân tài thành những bản báo cáo số lượng hình thức, tô hồng thành tích nhiệm kỳ. 

Đổi mới cách bảo vệ công trình quan trọng về an ninh quốc gia

Hôm nay, Quốc hội thảo luận tại tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi)

(CLO) Hôm nay (25/10), Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI tiếp tục bước sang tuần làm việc thứ 2 với nhiều dự án luật quan trọng. Trong đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), Luật An ninh dữ liệu, Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

(NB&CL) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh, nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia. Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược làm định hướng cao nhất. Từ tinh thần ấy, Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững được ban hành, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về nguồn lực con người.

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

(NB&CL) Một người đảng viên có thể trở thành doanh nhân giỏi, tạo ra sản phẩm có ích, giải quyết việc làm cho người lao động và đóng góp cho ngân sách. Nhưng nếu lợi thế kinh doanh đến từ chức vụ đang nắm giữ, thông tin có được nhờ công vụ hay khả năng chi phối những quyết định quản lý, câu chuyện đã vượt khỏi phạm vi làm giàu thông thường. Khi ấy, điều cần được xem xét không chỉ là khoản lợi nhuận thu về, mà còn là nguồn gốc của lợi thế tạo nên khoản lợi nhuận đó.

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

Bạo lực học đường: Ai đang làm mỏng đi quyền uy của thầy cô?

(CLO) Vụ nam sinh hành hung cô giáo ngay trên bục giảng tại Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Hà Nội, được phản ánh trong hai ngày qua, một lần nữa khiến dư luận bàng hoàng, đồng thời gợi lên câu hỏi không thể né tránh: Vì sao những hành vi xúc phạm, thậm chí bạo lực với thầy cô vẫn xảy ra trong môi trường giáo dục? Đổ hết lỗi cho học sinh là chưa đủ; nhưng nếu chỉ yêu cầu giáo viên phải thấu hiểu, bao dung và đổi mới, chúng ta cũng cần tự hỏi đã làm gì để bảo vệ người đang đứng trên bục giảng.

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

Phụ nữ Việt Nam: Từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" trong xã hội

(CLO) Bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phụ nữ Việt Nam không còn chỉ đóng vai trò là hậu phương vững chắc. Vượt qua những định kiến giới cũ kỹ, phụ nữ Việt Nam ngày nay đang tạo nên những bước chuyển mình ngoạn mục từ người "giữ lửa" trong gia đình đến người "kiến tạo" xã hội. Bằng trí tuệ, sự nhạy bén và khát vọng cống hiến mạnh mẽ, những người phụ nữ thời đại mới đang tự tin bước ra thế giới, khẳng định vị thế chủ thể trên mọi lĩnh vực chủ chốt từ chính trị, kinh tế số cho đến ngoại ngữ và khoa học công nghệ.

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

Phụ nữ Việt Nam phát huy bản lĩnh trong kỷ nguyên mới

(CLO) Từ những nữ doanh nhân chèo lái tập đoàn nghìn tỷ trong nền kinh tế số, các nhà khoa học nữ sở hữu công trình tầm cỡ quốc tế, cho đến những nữ chiến sĩ mũ nồi xanh kiên cường tại các phái bộ Liên Hợp Quốc... phụ nữ Việt Nam hôm nay đang viết nên một định nghĩa mới về bản lĩnh. Không còn bị trói buộc bởi những định kiến cũ kỹ, họ chủ động làm chủ công nghệ, đón đầu xu thế và tỏa sáng rực rỡ trong kỷ nguyên mới, trở thành động lực thúc đẩy hành trình vươn mình mạnh mẽ của toàn dân tộc.

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

(NB&CL) Bộ VHTTDL vừa ra mắt “Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam” và công bố 17 sáng kiến phát triển ngành năm 2026. Mạng lưới được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực, chia sẻ cơ hội hợp tác và thúc đẩy những sáng kiến mới, góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các định hướng thành chương trình hợp tác cụ thể, đưa ý tưởng thành sản phẩm có giá trị và tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước, quốc tế.

Việc đã rõ phải làm ngay

Việc đã rõ phải làm ngay

(NB&CL) Việc đã xác định rõ thì phải bắt tay thực hiện, vướng mắc phải được tháo gỡ, trách nhiệm phải được xác định đến cùng. Từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, 3 chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với quá trình tổ chức thực hiện các quyết sách: không để công việc chậm trễ vì né tránh, đùn đẩy, không để những vấn đề đã có hướng giải quyết tiếp tục ách tắc, mà phải tạo chuyển biến thực chất trong từng nhiệm vụ, từng lĩnh vực, để người dân và doanh nghiệp sớm nhận thấy kết quả.

Sau cuộc trở về là một lời hứa

Sau cuộc trở về là một lời hứa

(CLO) 731 liệt sĩ được đưa về nơi an nghỉ sau gần 60 năm. Nhưng sự tri ân không thể khép lại cùng một lễ truy điệu. Điều phải ở lại là lời hứa của những người đang sống: không quên quá khứ và xây dựng một đất nước xứng đáng với sự hy sinh ấy.

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

(NB&CL) Có một Hà Nội rất dễ nhận ra qua những câu chuyện hàng ngày, như tắc đường, mưa xuống là lo ngập, những dự án kéo dài, trường học quá tải... Nhưng nếu chỉ nhìn Thủ đô từ những điều ấy, sẽ khó thấy một chuyển động đang diễn ra khá rõ trong thời gian gần đây: Hà Nội đang thay đổi cách nghĩ về con đường phát triển của chính mình.

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

(NB&CL) Sự xuất hiện của những hội nhóm mang tên như “Hội những người từng đi tù”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” hay gần đây là “Con ghét bố mẹ” đang thu hút sự quan tâm lớn trên mạng xã hội. Đặc biệt, hội nhóm “Con ghét bố mẹ” đã thu hút sự quan tâm khi có hàng trăm nghìn thành viên. Nhiều bài viết chia sẻ những mâu thuẫn, tổn thương trong quan hệ giữa con cái và cha mẹ.

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?

Cỡ chữ bài viết: