Tranh cãi việc du học sinh về Việt Nam hay ở nước ngoài: Cần thay đổi tư duy

Dư luận dường như vẫn chưa ngừng băn khoăn trước những “chuyến di cư một đi không trở lại” đến môi trường giáo dục quốc tế của các DHS. Chuyện DHS “ở hay về”, mấu chốt vấn đề ở đâu?

(NBCL) Dư luận dường như vẫn chưa ngừng băn khoăn trước những “chuyến di cư một đi không trở lại” đến môi trường giáo dục quốc tế của các DHS. Chuyện DHS “ở hay về”, mấu chốt vấn đề ở đâu?

Nhân tài du học về nước có phát huy được tài năng?

Câu chuyện du học sinh Việt sang nước ngoài du học rồi ở lại đó làm việc mà không về cống hiến cho đất nước đang khiến dư luận đặc biệt quan tâm. Nhất là khi có phát ngôn của anh Nguyễn Thành Vinh – Á quân Đường lên đỉnh Olympia khi cho rằng về nước là sự lãng phí khi môi trường và cơ chế làm việc ở Việt Nam chưa phù hợp cho người thực tài phát triển giá trị và năng lực bản thân thì nhiều ý kiến tranh luận xung quanh vấn đề này càng trở lên nóng bỏng.

Việt Nam cần cải thiện môi trường để các trí thức lớn phát huy được hết sức mình.
Việt Nam cần cải thiện môi trường để các trí thức lớn phát huy được hết sức mình.

Nhiều ý kiến đồng tình khi dẫn chứng câu chuyện của anh Doãn Minh Đăng - cựu quán quân Đường lên đỉnh Olympia, giảng viên trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ gặp phải trong việc “hòa nhập” với môi trường làm việc trong nước. Nói như Nguyễn Thành Vinh, về nước, lương bổng chỉ vài triệu, mà ai cũng có gia đình để lo lắng, chắc chắn phải đi làm thêm, dạy thêm. Như thế, họ làm gì có khoảng trống nào để nghiên cứu khoa học, thứ mà họ luôn có sẵn ở môi trường nước ngoài. Hãy thử nhìn vào đội ngũ các nhà khoa học Việt Nam hiện thời, chúng ta sẽ càng hiểu hơn. Một năm họ mang lại bao nhiêu công trình khoa học hữu ích thực sự? Nhưng điều quan trọng là không phải họ kém cỏi, lười biếng hay an phận thủ thường mà cơ bản là các cơ sở khoa học ở Việt Nam không thể đáp ứng nổi nhu cầu nghiên cứu khoa học của họ. Các viện, các trung tâm khoa học hiện nay chỉ mong đủ kinh phí để tồn tại đã là quý lắm rồi, lấy đâu ra nguồn vốn mà tài trợ cho các nhà khoa học nhiều khát vọng. Bởi vậy, nếu đặt câu hỏi cho người điều hành một viện nghiên cứu khoa học nào đó, về chuyện thực sự những nhà khoa học trẻ có nên trở về làm việc ở trong nước hay không, chắc câu trả lời chân thành mà ta nhận được sẽ là không nên, bởi về rồi thui chột, rồi bất mãn, rồi sinh ra phản ứng, như Doãn Minh Đăng đã làm.

Chúng ta từng đón nhận hân hoan tin tức Ngô Bảo Châu được giải Fields, và chúng ta vẫn biết GS. Ngô Bảo Châu được giải ấy nhờ công trình nghiên cứu ở nước ngoài. Giả sử, hồi đó, Ngô Bảo Châu về nước, chắc chúng ta chỉ có một Ngô Bảo Châu nhà giáo, mà chưa chắc đã là nhà giáo giỏi, khi nhiệt huyết thực sự không còn.

Nếu chúng ta có một đứa con, học khoa học ở Âu hay Mỹ, và tốt nghiệp rồi, có lựa chọn ở lại làm việc cho nước ngoài, nơi có điều kiện phát triển nghề nghiệp hơn, chúng ta sẽ khuyên thế nào? Cha mẹ chẳng ai muốn xa con cả. Nhưng nếu sự xa cách ấy mang lại một tương lai tốt đẹp hơn cho con, cha mẹ sẽ biết hy sinh. Tổ quốc cũng là cha mẹ, và Tổ quốc có quyền đòi hỏi công dân hy sinh vì mình, với tinh thần trách nhiệm, với danh dự của một người công dân thì Tổ quốc cũng đã nhiều lần biết hy sinh để người dân của Tổ quốc có một tương lai tốt đẹp hơn.

Việt Nam đã từng đón nhận những làn sóng trí thức về phục vụ Tổ quốc nhiều lần rồi, và sau đó chúng ta cũng có những kinh nghiệm trải qua mà cuối cùng, đến hôm nay, vẫn chưa có hướng nào để khắc phục kinh nghiệm ấy. Vậy thì những nhà khoa học trẻ, nếu họ đi du học bằng chính đồng tiền họ bỏ ra, hoặc bằng khả năng của họ trong việc xin học bổng từ các quỹ, các trường, các tổ chức, có lẽ ta không nên can thiệp vào tương lai của họ bằng cái áp lực ái quốc. Họ ở xa, mà họ có công trình xứng đáng, được thế giới ghi nhận, đó mới chính là ái quốc, bằng cách vinh danh Tổ quốc mình trên các bảng vàng. Còn trường hợp họ đi bằng tiền của Nhà nước thì hoàn toàn khác, lúc đó, Nhà nước phải xem lại chính khả năng sử dụng nhân tài của mình, khi để nhà khoa học có tài trở về và làm cái việc vô cùng tầm thường là mưu sinh như triệu người khác.

Việt Nam vẫn luôn cần những trí thức lớn. Nhưng Việt Nam cũng cần cải thiện môi trường để các trí thức lớn phát huy được hết sức mình. Lúc đó, hai chữ cống hiến mới thực sự mang lại giá trị và ý nghĩa đúng đắn như nó vốn có.

Thất bại không phải do “môi trường”

Nguyễn Chí Hiếu - chàng sinh viên trong top 3 sinh viên giỏi nhất nước Anh năm 2004, sau nhiều năm làm trong lĩnh vực tài chính ở Mỹ, Anh nhưng trong Hiếu vẫn  luôn thôi thúc muốn về quê hương lập nghiệp theo con đường riêng.

Nguyễn Chí Hiếu chia sẻ: “Đã có lúc tôi nghĩ mình khi trở về nước sẽ không thích nghi được với cuộc sống, công việc sau một thời gian học tập và làm việc ở nước ngoài. Nhưng khi trở lại, tôi đã theo đuổi được mong ước của mình và cống hiến cho những việc cần làm trong cuộc đời của mình”.

Trước thực tế người tài ở Việt Nam đi du học thường ít người trở về phục vụ đất nước, PGS.Trần Xuân Nhĩ - nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT cho rằng, “lẽ ra người tài phải phục vụ đất nước, nhưng người tài của chúng ta chỉ thích ở nước ngoài đó là một thực tế buồn. Ông cha ta đã có câu “hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, trước thực trạng hàng năm nước ta tiêu tốn rất nhiều tiền của du học, nhưng rất ít du học sinh mang những điều học được ở các nước tiên tiến về xây dựng, phát triển đất nước”.

Tôi cho rằng cách sử dụng người tài của nước ta và môi trường hoạt động không tạo điều kiện để họ phát triển khả năng nên họ không về. Chính sách đãi ngộ hiện nay còn bất cập, đãi ngộ không đủ họ nuôi con, chi phí sinh hoạt thì sao họ yên tâm công tác. Đó là thực tế, nhưng bản thân người tài thì đi đâu, ở đâu cũng sống rất đàng hoàng, đầy đủ. Theo đó, muốn thu hút người tài một cách thực sự thì hãy cho họ một môi trường làm việc tốt, được coi trọng đúng mức”, PGS Trần Xuân Nhĩ cho biết thêm.

Cần thay đổi tư duy?

Quay lại chuyện du học xong về hay ở lại nước ngoài, đương nhiên đây là lựa chọn cá nhân. Nhưng cần phải dứt khoát phải thay đổi tư duy “nhân tài” với “hiền tài”, “nguyên khí”… không nên tư duy kiểu cứ học nhiều là nhân tài. Một tiến sĩ học ở nước ngoài về với một nghệ nhân làm bánh giỏi, chưa đi nước ngoài bao giờ đều đáng giá như nhau. Mỗi người có giá trị riêng.

Cái sai bắt đầu từ việc gắn cho những người du học là “nhân tài”, rồi từ đó mới nảy sinh vấn đề trọng dụng nhân tài, rồi biệt đãi, rồi về hay ở.

Nhiều người nói không về vì về thì “không có môi trường cống hiến”, nghe đã không ổn, không thực tế. Chính xác là họ cần môi trường để khẳng định giá trị bản thân, có vị thế trong xã hội, từ đó dẫn đến danh tiếng và lợi ích. Nếu diễn giải như thế, thì về hay ở, du học hay học trường đời đều hữu ích. Ai cũng sẽ có đất dụng võ theo sở trường và gặt hái giá trị tương đương.

Nếu giỏi thực sự thì ở đâu cũng có đất sống và vui sống được. Làm giảng viên đại học không được, thì bạn tạo dự án, thuyết phục nhà đầu tư, dạy học, tư vấn, làm dịch vụ… Đâu cứ phải cố sống cố chết để len vào một hệ thống nào, một cơ quan nào… rồi kêu ca bị bạc đãi.Việc học, trên hết là để biết cách sống hạnh phúc và tạo cơ hội cho mình trong bất cứ hoàn cảnh và môi trường nào. Xã hội không cần “nhân tài”, mà cần người hiểu biết.❏

Khánh An

GS Văn Như Cương: Có một thực tế, hiện nay nhìn chung điều kiện trong nước vẫn còn nhiều khó khăn, lương bổng ít nhưng tất cả mọi người đều như thế. Có điều anh có thích nghi được và phát huy những kiến thức mà anh đã học được từ nước ngoài hay không. Trên thực tế, có nhiều du học sinh về nước, họ đã có những công trình nghiên cứu mang lại nhiều công ăn việc làm cho nhiều người, đóng góp mang lại lợi ích kinh tế cho đất nước và thành công cho bản thân họ. Nếu họ cũng suy nghĩ như thế thì đâu có được thành tựu như vậy. Ai cũng biết, môi trường ở nước ngoài có nhiều cơ hội tìm việc làm tốt, có nhiều điều kiện để phát triển nghiên cứu khoa học và những người có năng lực bao giờ cũng được trả công xứng đáng đúng với những thành quả mà họ tạo ra. Tuy nhiên, ở môi trường trong nước và nước ngoài đều có những khó khăn riêng, mỗi người phải thích nghi thì mới có thể phát triển.

TS Lê Trường Tùng (Chủ tịch HĐQT đại học FPT): Đi du học  và sau đó rất nhiều bạn ở lại không về thì hiển nhiên là đất nước có vấn đề. Trách nhiệm thuộc về ai thì những người đó phải trăn trở nhiều hơn. Chẳng hạn nếu tại một địa phương, người tài cứ đi không về thì trước hết các tân Bí thư, tân Chủ tịch mới được bầu phải băn khoăn trăn trở tìm lời giải. Băn khoăn của lãnh đạo khác băn khoăn của phụ huynh, và băn khoăn của người dân nói chung. Việc thay đổi cơ chế để “chim” về đậu nhiều hơn thì trách nhiệm trước hết là của lãnh đạo. Làm sao cho đất lành hơn, để “chim Việt” tụ về một cách hồ hởi, tự nguyện. Khi “đất chưa lành” nhiều, một số “chim Việt” đang đậu đâu đó mưu cầu hạnh phúc là thông cảm được.

PGS.TS Lê Anh Vinh - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Khoa học giáo dục (ĐH Giáo dục, ĐH Quốc Gia Hà Nội): Nhiều người tài đang dành quá nhiều thời gian vào việc ca thán và so sánh về điều kiện, môi trường làm việc mà chưa nhận thức được rằng, bản thân họ phải tự có trách nhiệm để làm thay đổi tích cực môi  trường, xã hội xung quanh. Trong những tranh luận ồn ào trên các phương tiện thông tin đại chúng gần đây về hiện tượng chảy máu chất xám, người tài “một đi không trở lại” xây dựng đất nước, chúng ta có thể thấy rằng lợi ích về vật chất không phải là lý do cơ bản. Rất nhiều du học sinh đã bày tỏ quan điểm mong muốn về nước công tác để đóng góp nhưng lại lo lắng về môi trường làm việc không phù hợp. Rõ ràng các nhà khoa học trẻ chúng ta không thể yêu cầu các trường ĐH, Học viện nghiên cứu phải có cơ sở vật chất hoàn hảo, kinh phí ngân sách dồi dào thì mới làm khoa học mà chúng ta phải đóng một vai trò tích cực tạo ra một môi trường nghiên cứu phù hợp.

GS-TSKH Đào Trọng Thi - Chủ nhiệm UB Văn hóa- Giáo dục- Thanh thiếu niên Nhi đồng của Quốc hội: Vấn đề lớn nhất ở đây là do cơ chế, môi trường làm việc của Việt Nam chưa thích hợp cho người thực tài phát triển. Do đó, dù có thu hút được người giỏi về nước cũng không có “đất” cho họ thi thố tài năng. Nền kinh tế của chúng ta phát triển chưa cao, do đó việc sử dụng hiệu quả những nhà khoa học có hàm lượng chất xám cao cũng bị hạn chế. Thứ hai, kể cả chúng ta đưa ra một cơ chế đặc thù để ưu đãi người tài nhưng không sử dụng hết năng lực của họ thì đó không chỉ là sự bất công mà còn làm thui chột tài năng của họ. Hiện nay du học sinh đi du học phần lớn là tự túc hoặc xin học bổng ngoài ngân sách vì thế họ không có trách nhiệm phải quay trở về.

Bốn lý do khiến nhiều du học sinh ngại trở về

Trao đổi về vấn đề du học sinh ngại trở về, GS Nguyễn Minh Thuyết  – nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội cho rằng:

Trong số những người Việt Nam đi du học nước ngoài có người thích sống ở nước ngoài nhưng không phải ai cũng thích sống ở nước ngoài. Vì vậy, chuyện nhiều bạn trẻ không muốn trở về nước hẳn có nguyên do khác.

GS Nguyễn Minh Thuyết đưa ra 4 lý do khiến nhiều du học sinh ngại trở về:Thứ nhất, nếu du học sinh trở về thì liệu họ có kiếm được việc làm không? Đây là điều hoàn toàn không hề dễ dàng, vì hiện nay để kiếm được việc làm, nhất là trong khối cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, cần phải chi tiền, mà số tiền đó không hề nhỏ.

Trong khi đó, nếu ở lại nước ngoài, họ hoàn toàn có thể tìm được công ăn việc làm, miễn là đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn của các tổ chức, công ty nước đó hoặc nước khác.

Thứ hai, giả sử họ về nước, có tiền để “chạy” việc và “chạy” được thật chứ không bị lừa thì thu nhập từ công việc đó lại rất thấp, khiến họ không đủ trang trải cuộc sống. Tương lai này dĩ nhiên các bạn sinh viên, nghiên cứu sinh mới ra trường không mong muốn chút nào.

Thứ ba, giả sử các du học sinh có chấp nhận thu nhập thấp để làm việc thì cơ hội phát triển cũng rất ít vì cơ hội đó hiện đang phụ thuộc vào thứ tự “hậu duệ- tiền tệ- quan hệ”. Điều này có nghĩa là dù có kiến thức chuyên môn giỏi mấy thì cơ hội phát triển may lắm cũng chỉ giống như chơi xổ số thôi.

Trong khi đó, ở nước ngoài, cơ hội phát triển luôn mở cho những người có chuyên môn giỏi, quyết tâm cao.

Thứ tư, các du học sinh không muốn trở về vì không muốn sống trong một xã hội chưa văn minh. Sống trong nước, họ thấy từ chuyện bé nhất như tham gia giao thông, an toàn thực phẩm, làm xác nhận nọ kia cho đến chuyện lớn như mua đất, xây nhà…, quyền con người, quyền công dân lúc nào cũng dễ dàng bị xâm phạm mà xử lý thì rất chậm.

Nhiều năm trước, có vị đại biểu Quốc hội là một luật sư nổi tiếng đã thẳng thừng nhận xét rằng ta có cả một rừng luật nhưng lại sống theo luật… khác. Cho đến hôm nay, thực tế cuộc sống vẫn không khác nhiều so với cách chơi chữ của vị Đại biểu này.Tuy nhiên, đối với du học sinh tự túc kinh phí thì việc ở lại hay trở về là quyền cá nhân của họ. Nhưng đối với những anh chị em du học bằng tiền ngân sách nhà nước hay bằng học bổng của các tổ chức, đơn vị thì cần phải cư xử sòng phẳng, đàng hoàng, theo đúng hợp đồng, kể cả hợp đồng miệng. Những bạn đó cần phải về nước phục vụ đủ số năm theo quy định hoặc trả lại số tiền đã được cấp. Học bổng Nhà nước là tiền thuế của dân, tiền của tổ chức, đơn vị đã cấp cũng là tiền của tập thể. Không có lý do gì mà người dân hay các thành viên trong một tổ chức, đơn vị lại phải đài thọ để các bạn đi học rồi ở lại nước ngoài.

Thùy Linh (giaoduc.net)

Dừng lại hay làm tiếp?

Ít vụ kiện nào mà bên thắng cuộc lại cảm thấy “mất mát” như vụ đòi bồi hoàn kinh phí của TT Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Đà Nẵng.Với những người bị kiện và gia đình họ thì cảm giác còn buồn hơn nữa, không phải chỉ đơn thuần vì thua kiện, mà còn vì tầng tầng tâm tư mà người ngoài cuộc không thể hiểu được. Những người vi phạm hợp đồng này nhiều khi không hẳn là ở lại nước ngoài làm việc để có mức thu nhập cao hơn, mà có thể là do nhận được học bổng để học tiếp lên cao hơn. Trong trường hợp đó, họ được cử đi học để nâng cao năng lực, nhưng lại vi phạm hợp đồng và bị kiện vì lý do tương tự. Một số khác chọn cách ở lại, có thể không vì để học cao hơn, nhưng lại do hoàn cảnh cá nhân cưỡng ép, như đã lập gia đình trong thời gian du học và không thể trở về nếu không muốn ảnh hưởng đến gia đình. Một số khác ở lại có thể vì họ nhìn thấy trước một tương lai không mấy sáng sủa, nếu trở về thì sẽ không làm được gì, vì thế chấp nhận bồi hoàn kinh phí, hoặc thậm chí là bị kiện.

Nhìn sâu hơn, những người bị ảnh hưởng trong trường hợp này sẽ không chỉ là bên nguyên và bên bị, mà là những người dân đóng thuế vào ngân sách để thực hiện đề án này. Những người dân đóng thuế đến từ mọi tầng lớp, có thể là những người vẫn còn rất khó khăn. Họ đã tham gia đề án này như một nhà đầu tư dưới dạng tiền thuế của mình. Vậy họ sẽ nghĩ gì khi khoản đầu tư của mình không được thực hiện như cam kết? Thực tế là, không ai giậm chân tại chỗ, không thay đổi. Người mà các cơ quan ký hợp đồng đào tạo và người sau khi được đào tạo, tuy cùng tên gọi và đặc điểm sinh học, nhưng nhận thức hoàn toàn khác nhau. Vì thế, những thỏa thuận đã đạt được với người cũ, nhiều khả năng sẽ trở thành bất cập với người mới. Vậy thì vì sao lại xảy ra tình trạng này? Hẳn phía sau nó phải chứa những điều bất hợp lý mà nếu không xem xét để khắc phục, thì sẽ tái diễn có thể ở chính Đà Nẵng, hoặc ở nhiều địa phương khác.

Nhìn rộng hơn, chuyện của Đà Nẵng chỉ là một phần nổi rất nhỏ của tảng băng trôi, khi các tỉnh thành khác cũng gặp những vấn đề tương tự, nhưng không hoặc chưa biết giải quyết thế nào, hoặc có giải quyết cũng không hiệu quả. Việc xem xét những điều bất hợp lý này, trực diện nhất là trước thực tế như vậy, có nên tiếp tục các dự án sử dụng ngân sách để cử cán bộ đi đào tạo? Nếu tiếp tục thì cần thay đổi gì để tạo hiệu quả tốt hơn? Dù dừng lại hay làm tiếp thì điều cần nhất trước khi đưa ra quyết định này là tiến hành một nghiên cứu xem hiệu quả của dự án này từ trước đến nay ra sao. Nếu thấy thực sự không hiệu quả, thì thảnh thơi dừng lại, để tiền đầu tư đó cải thiện môi trường làm việc. Thực tế cho thấy, khi có môi trường phù hợp, nhân tài sẽ tự đổ về. Còn nếu không có môi trường như vậy, thì dù lôi kéo, ưu đãi thời gian đầu, trước sau gì nhân tài cũng lại ra đi.

Từ kinh nghiệm cá nhân, người viết thấy rằng đầu tư để đào tạo nhân lực là cần thiết. Nhiều nước cũng đã làm như vậy. Vấn đề là làm sao cho hiệu quả, và quan trọng hơn, là sau khi đào tạo thì sử dụng thế nào, cần tạo môi trường chính sách gì để người được đào tạo có thể phát huy được năng lực của mình. Như thế, câu hỏi sẽ thu gọn lại thành: cần cải thiện gì để chương trình đào tạo này hợp lý và hiệu quả hơn, tránh được những kiện tụng không muốn như hiện giờ?

Báo Đất Việt

Xem thêm

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

(CLO) Mỗi thế hệ đều có một thời điểm phải trả lời câu hỏi: mình sẽ lớn lên như thế nào trong bước chuyển của đất nước. Với tuổi trẻ hôm nay, câu hỏi ấy đến sớm hơn và cũng cụ thể hơn. Khi Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới với những cơ hội rộng mở nhưng áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, điều được chờ đợi ở người trẻ không chỉ là khát vọng hay nhiệt huyết, mà còn là năng lực thích ứng, tinh thần học tập không ngừng và bản lĩnh để tạo ra giá trị thật. Lớn cùng nhịp bước của đất nước, vì thế, không còn là một lời cổ vũ, mà đang trở thành một yêu cầu của thời đại.

Cỡ chữ bài viết: