Tranh luận chuyện hồ thủy điện xả lũ

Tranh luận chuyện hồ thủy điện xả lũ

Trong khi đó, những người từng phụ trách thủy lợi nói, xả như vậy là làm lũ “nhân tạo” chồng lên lũ tự nhiên.

Xả lũ là bất khả kháng


Ông ĐỖ HỮU HÀO (thứ trưởng Bộ Công thương) - Ảnh: Tuổi Trẻ


Thứ trưởng Bộ Công thương ĐỖ HỮU HÀO: Mưa lũ là bất khả kháng. Không ai biết chắc bão về thì mưa lũ sẽ là bao nhiêu. Nhà ở phố mưa nhiều cũng ngập nên việc các thủy điện thời gian qua, khi có bão lũ lớn phải xả lũ, khiến hạ nguồn ngập nặng cũng là bất khả kháng. Về nguyên tắc, các thủy điện này đều có chức năng tích nước phát điện và xả lũ.

Dư luận mới chỉ nói đến một phía là do xả lũ gây ngập nặng nhưng thực tế nếu không có đập thủy điện giữ lại, tất cả lũ tràn về thì có thể lũ còn lớn hơn nhiều.

Nếu các hồ thủy điện cứ giữ nước, không xả, đập vỡ thì có thể cuốn trôi cả thành phố chứ không chỉ ngập như vậy. Chúng ta phải nhìn nhận sự việc trên cả hai chiều.

Thưa ông, điều dư luận quan ngại nhất là có quá nhiều thủy điện trên một dòng sông và được xây dựng vì mục tiêu kinh tế chứ không quan tâm đến chống lũ?

Nhân dân thắc mắc là đúng nhưng chúng tôi khẳng định là các thủy điện đều có trong quy hoạch và chúng tôi quản được quy hoạch. Hiện nay, việc xây dựng các nhà máy thủy điện được thẩm định chặt, thậm chí phải qua cả Thủ tướng.

Những công trình thủy điện có công suất 50MW trở lên đều phải nằm trong quy hoạch tổng sơ đồ điện VI đã được phê duyệt và phải được Thủ tướng đồng ý mới triển khai.

Thủy điện công suất 50MW trở xuống được giao cho các địa phương phê duyệt nhưng cũng phải trao đổi và có sự thống nhất của Bộ Công thương.

Một dự án thủy điện được phê duyệt ngoài khả năng phát điện còn phải đảm bảo tính khả thi, các yêu cầu về kỹ thuật, đảm bảo an toàn cho hạ lưu và các vấn đề về môi trường... Còn tại sao lại có nhiều thủy điện trên một dòng sông thì đó là cách tận dụng khả năng phát điện.

Thủy điện vẫn là loại hình phát điện rẻ, hiệu quả và không gây ô nhiễm nên chúng ta ưu tiên và tận dụng để phát triển nguồn điện. Nguồn thủy điện lớn hết rồi thì giờ chúng ta phải tập trung làm thủy điện vừa và nhỏ.

Nhưng thực tế, nhiều thủy điện xả lũ đã gây lũ nặng hơn cho hạ lưu?

Không phải. Trong các trận lũ vừa qua, chúng tôi kiểm tra lại và thấy nếu không có các hồ thủy điện thì lũ có thể cao hơn. Các hồ thủy điện đã giảm, cắt lũ được 20 - 30%. Bây giờ, rừng đã bị phá nhiều, mưa xuống bao nhiêu trôi xuống hết nên lũ có xu hướng mạnh lên.

Các thủy điện đều có quy trình xả, quy trình đó không phải một bộ làm mà liên bộ làm. Giám đốc mà lệnh cho xả sai quy trình thì ông ta có thể bị đi tù chứ không đơn giản. Nhưng do lũ to là bất khả kháng nên khi các hồ thủy điện xả đã gây lũ.

Việc kiểm tra vận hành của các hồ thủy điện có thường xuyên không?

Việc kiểm tra thực hiện theo phân cấp. Thủy điện địa phương cấp phép thì địa phương kiểm tra, còn lại bộ kiểm tra. Tuy nhiên, nhà máy thủy điện cũng như các nhà máy khác, giám đốc phải chịu trách nhiệm toàn bộ. Khi có vấn đề gì thì các cơ quan chức năng mới đi kiểm tra, nếu không trên cả nước có cả nghìn nhà máy thủy điện, kiểm tra làm sao hết được. Bình thường họ vận hành thì không phải kiểm tra.

Ngoài quy trình vận hành của một hồ thủy điện, nếu trên cùng một dòng sông có nhiều đập thủy điện thì các nhà máy thủy điện này còn phải chấp hành quy trình vận hành liên hồ chứa. Vấn đề này được giao cho Bộ Tài nguyên - môi trường. Việc xả, vận hành thủy điện theo quy trình và các quy định nghiêm túc như vậy chứ không phải các hồ muốn làm gì thì làm.

Sơ tán dân rồi mới xả lũ


Ông VŨ TRỌNG HỒNG (tổng thư ký Hội Thủy lợi VN) - Ảnh: Tuổi Trẻ

Ông VŨ TRỌNG HỒNG - Tổng thư ký Hội Thủy lợi, nguyên thứ trưởng Bộ Thủy lợi đưa ra ý kiến:

Qua sự việc của hồ thủy điện A Vương và Sông Ba Hạ, tôi thấy có vấn đề trong điều hành.

Bình thường, khi không có lũ thì Bộ Công thương chịu trách nhiệm về việc không để các đập thủy điện vỡ và vẫn tích được nước sản xuất điện, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chịu trách nhiệm để không xảy ra tình trạng ngập úng hoặc hạn hán dưới hạ lưu, Bộ Tài nguyên - môi trường có nhiệm vụ xây nhiều hồ tích lũ. Nhưng khi lũ về thì ba bộ này không thể đứng riêng rẽ được.

Lúc đó, Thủ tướng phải “cầm cờ”, giao cho cơ quan tham mưu là Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương điều phối và nên có sự tham gia của các chuyên gia thủy lợi lâu năm.

Trong trường hợp một hồ thủy điện “báo động đỏ” thì ban chỉ đạo phải biết và tỉnh khẩn cấp di dời dân rồi mới xả, chứ không thể xả trước rồi nói rằng xả là hợp lý, xả vì bất khả kháng.

Quan trọng nhất là trước mùa lũ, Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương phải ra quyết định về cách điều hành, xả lũ vì trên một dòng sông thường có 3 - 4 hồ thủy điện.

Ở các vụ việc vừa rồi, tôi có thể đặt câu hỏi là trước mùa lũ anh đã làm gì. Chống lũ không phải có lũ thì mặc áo phao vào mà cái chính là trước khi mùa lũ đã phải lặn lội xem tình hình ở tất cả các nơi rồi.

Ngoài ra, tôi cho rằng, một điểm rất quan trọng mà hiện nay chúng ta coi thường là việc lập bản đồ những vùng trũng, vùng ven sông của các địa phương để trước mùa lũ có tính toán, thông báo cho người dân biết nguy cơ ngập thì mới có biện pháp phòng tránh kịp thời.

Lũ “nhân tạo” chồng lên lũ tự nhiên


Ông Phạm Hồng Giang
(Ảnh: Tuổi Trẻ)
Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học PHẠM HỒNG GIANG - Chủ tịch Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn:

Nếu quản lý hồ không theo quy trình, duy trì mức nước hồ quá cao trong mùa mưa, không kịp thời xả nước trước, nhất là khi đã có dự báo mưa lũ, rồi phải xả nước hồ cùng với thời điểm lũ tự nhiên đang về thì đúng là lũ “nhân tạo” đã chồng lên lũ tự nhiên.

Trước đây, mọi quy hoạch và công tác quản lý nguồn nước do Bộ Thủy lợi phụ trách. Lúc đó, hầu hết các hồ chứa vừa và nhỏ phục vụ yêu cầu sản xuất nông nghiệp. Sau đó, phần thủy điện được tách ra và phát triển rất mạnh trong thời gian qua do nhu cầu về năng lượng tăng nhanh.

Khi tham gia xem xét các dự án thủy điện vừa và lớn, Bộ Thủy lợi, sau này là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đều yêu cầu các hồ chứa phải có nhiệm vụ chống lũ. Tuy nhiên, khi vận hành thì không rõ việc đó được thực hiện thế nào.

Hiện, chỉ riêng hồ Hòa Bình có quy trình vận hành được Chính phủ phê duyệt và nhiệm vụ chống lũ của hồ được chỉ đạo tương đối chặt chẽ. An toàn của đập Hòa Bình cũng được hội đồng liên ngành theo dõi, đánh giá hằng năm. An toàn của các đập khác thì chủ đầu tư tự lo.

Chưa thể nói mô hình điều hành hồ Hòa Bình đã hoàn toàn tốt, song những kinh nghiệm tại đó nên được tham khảo cho các nơi khác. Theo tôi, nên có cơ chế quản lý chung, có một “tổng chỉ huy” chứ không thể như hiện nay, chỉ lo lợi ích của chủ đầu tư, lợi ích của ngành mình, của địa phương mình.

Hiện nay, việc quản lý nguồn nước phân tán quá. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn lo tưới tiêu, Bộ Công thương lo phát điện, Bộ Tài nguyên - Môi trường lo tác động môi trường... Vì thế, rất cần sự phối hợp và điều hành chung.

Ở những nơi có điều kiện, người ta xây dựng nhiều đập “bậc thang” trên sông nhằm tận thu nguồn thủy năng. Tại đó, việc xả lũ từ hồ trên đương nhiên có ảnh hưởng lớn đến hồ dưới. Tuy nhiên, vẫn chưa có quy chế nào về quản lý các hệ thống thủy điện bậc thang.

Những trận lũ lớn gây thiệt hại nghiêm trọng vừa qua ở miền Trung đang đặt ra nhiều vấn đề rất cấp bách, trong đó có vấn đề quản lý hồ chứa an toàn và tham gia tích cực vào việc giảm nhẹ lũ.

355 nhà máy thủy điện ở miền Trung, Tây nguyên


Ông Bùi Cách Tuyến
(Ảnh: Tuổi Trẻ
)
Ông BÙI CÁCH TUYẾN - Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường: Thống kê ban đầu của chúng tôi cho thấy, số lượng thủy điện vừa và nhỏ do địa phương phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường ở một số tỉnh miền Trung và Tây nguyên lên tới 355 cái, trong đó Gia Lai là 113, Lâm Đồng 55, Kontum 22, Đắc Nông 64 và Đắc Lắc 101.

Chính vì vậy, đối với bất kỳ báo cáo đánh giá tác động môi trường nào, vấn đề hậu kiểm, giám sát thực hiện theo đúng báo cáo là rất quan trọng.

Tôi nghĩ, đây là vấn đề quan trọng số một mà các địa phương phải thường xuyên theo dõi và giám sát các chủ đầu tư vì từ hậu kiểm, thanh kiểm tra có thể phát hiện những vấn đề mà trước đây chưa tính toán được để kịp thời có những đề xuất lên các đơn vị chuyên ngành cao hơn như Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên - môi trường để được tư vấn hoặc cùng hợp lực giải quyết.

(Theo Tuổi Trẻ)

Xem thêm

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Cỡ chữ bài viết: