Cải cách tiền lương: Cần có một quyết định đột phá!

Cải cách tiền lương không chỉ là chuyện “tăng bao nhiêu”, mà là nâng cao năng lực quản lý và phục vụ của Nhà nước. Khi lương không đủ sống, khu vực công khó thu hút, giữ chân người giỏi và nâng cao hiệu quả công vụ. Vì vậy, đợt cải cách tiền lương dự kiến từ ngày 1/1/2026 được kỳ vọng sẽ chuyển tư duy từ “chi phí” sang “đầu tư cho năng suất Nhà nước”.

Bộ Nội vụ đề xuất tăng lương tối thiểu

Bộ Nội vụ vừa đề xuất mức lương tối thiểu áp dụng từ ngày 1/1/2026 với vùng cao nhất là 5.310.000 đồng/tháng tại Nghị định quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Hiện dự thảo Nghị định đang được Bộ Tư pháp thẩm định.

Hiện tại, mức lương tối thiểu đang áp dụng theo Nghị định 74/2024/NĐ-CP tại vùng 1 là 4.960.000 đồng/tháng, vùng 2 là 4.410.000 đồng/tháng, vùng 3 là 3.860.000 đồng/tháng vùng 4 là 3.450.000 đồng/tháng.

10-11.jpg

Theo Bộ Nội vụ, Nghị định số 74/2024/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, với mức tăng bình quân 6% so với năm 2022. Tuy nhiên đến nay, Bộ Nội vụ nhận thấy có một số vấn đề đặt ra cần phải xem xét điều chỉnh mức lương tối thiểu. Trong đó, các yếu tố về kinh tế - xã hội, thị trường lao động, khả năng của doanh nghiệp có sự thay đổi theo hướng tích cực hơn.

Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) cả sáu tháng đầu năm 2025 đạt 7,52%, mục tiêu năm 2025 đạt 8% trở lên. Thị trường lao động ổn định và duy trì đà phục hồi; sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp có xu hướng tốt hơn; tiền lương, thu nhập của người lao động tiếp tục ổn định và tăng lên, quý sau cao hơn quý trước.

Bên cạnh đó, giá trị thực tế của mức lương tối thiểu tại Nghị định số 74/2024/NĐ-CP bị suy giảm dần theo thời gian do chỉ số giá tiêu dùng tăng (CPI). Với dự kiến CPI năm 2025 và 2026 mỗi năm tăng 3,7% thì mức lương tối thiểu nêu trên sẽ không còn bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ đến hết năm 2026 (thấp hơn khoảng 6,6%).

Mức lương tối thiểu tại Nghị định số 74/2024/NĐ-CP được xác lập theo vùng và gắn với địa giới hành chính cấp huyện. Trong khi đó từ ngày 1/7, khi thực hiện sắp xếp lại các đơn vị hành chính trên cả nước, các địa bàn áp dụng lương tối thiểu đã được Chính phủ rà soát, điều chỉnh một bước gắn với đơn vị hành chính cấp xã mới.

Tuy nhiên, do đây là chính sách có tác động rộng đến nhiều đối tượng, gồm cả doanh nghiệp và người lao động, vì vậy, các địa bàn áp dụng lương tối thiểu theo đơn vị hành chính cấp xã cần tiếp tục được rà soát, cập nhật cho phù hợp tình hình thực tế tại các địa phương sau sắp xếp.

Hơn nữa, ngày 25/7, Hội đồng Tiền lương quốc gia đã có báo cáo gửi Chính phủ khuyến nghị điều chỉnh mức lương tối thiểu tăng bình quân 7,2%, áp dụng từ ngày 1/1/2026. Do đó, theo Bộ Nội vụ, việc xây dựng Nghị định quy định mức lương tối thiểu để áp dụng cho năm 2026 là rất cần thiết.

Dự thảo nghị định quy định việc điều chỉnh mức lương tối thiểu tăng 7,2% so với mức hiện hành, áp dụng từ ngày 1/1/2026. Đây là mức đề xuất trùng với phương án Hội đồng Tiền lương quốc gia thống nhất khuyến nghị Chính phủ. Các mức lương tối thiểu tháng theo bốn vùng gồm: Vùng I là 5,31 triệu đồng/tháng, vùng II là 4,73 triệu đồng/tháng, vùng III là 4,14 triệu đồng/tháng, vùng IV là 3,7 triệu đồng/tháng. Mức lương tối thiểu nêu trên tăng 250.000-350.000 đồng (tương ứng tỷ lệ bình quân 7,2%) so với mức lương tối thiểu hiện hành.

Bên cạnh đó, dự thảo cũng nêu quy định các mức lương tối thiểu giờ theo bốn vùng: Vùng I là 25.500 đồng/giờ, vùng II là 22.700 đồng/giờ, vùng III là 20.000 đồng/giờ, vùng IV là 17.800 đồng/giờ.

Bộ Nội vụ cho biết, mức điều chỉnh lương tối thiểu nêu trên cao hơn khoảng 0,6% so với mức sống tối thiểu của người lao động đến hết năm 2026 để cải thiện cho người lao động. Mức điều chỉnh này có sự chia sẻ, hài hòa lợi ích của người lao động và doanh nghiệp, vừa chú ý cải thiện đời sống cho người lao động, vừa chú ý đến việc bảo đảm duy trì và phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Phương án tăng lương này cũng đã tính đến bối cảnh kinh tế - xã hội và mức độ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất. Cụ thể, dự báo đưa ra là chi phí sản xuất tăng bình quân 0,5 - 0,6%. Trong đó, ngành dệt may, da giày được cho là có mức tăng cao hơn, khoảng 1,1 - 1,2%.

Mức điều chỉnh trên có sự chia sẻ, kết hợp hài hòa được lợi ích của người lao động và doanh nghiệp. Điều này hướng đến mục tiêu vừa chú ý cải thiện đời sống cho người lao động, vừa chú ý đến việc bảo đảm duy trì, phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Ngoài ra, việc tăng lương tạo điều kiện cho người lao động cải thiện cuộc sống, hỗ trợ tích cực cho hai bên. Doanh nghiệp xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, hạn chế các tranh chấp lao động tập thể, đình công phát sinh, góp phần tích cực cho việc duy trì ổn định trật tự xã hội.

Đối với mức lương tối thiểu theo giờ, Bộ Nội vụ cũng cho rằng, trường hợp lương tối thiểu tháng năm 2026 được Chính phủ thống nhất điều chỉnh tăng 7,2%, thì mức lương tối thiểu giờ cũng cần phải được xem xét điều chỉnh để bảo đảm sự đồng bộ của chính sách và quyền lợi của người lao động làm công việc linh hoạt, không trọn thời gian. Đánh giá tác động, Bộ Nội vụ cho biết, mức lương tối thiểu giờ chỉ là mức sàn thấp nhất để hai bên thỏa thuận, trả lương cho một giờ lao động.

Tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức phải ngang với mức sống trung bình của xã hội

Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa đề nghị cần có một quyết định đột phá về thu nhập và đãi ngộ theo nguyên tắc tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức phải ngang với mức sống trung bình của xã hội. Theo đại biểu, một thách thức khác rất lớn mà phải vượt qua, đó là yếu tố con người, là nguồn nhân lực - nhân tố quyết định thành bại của mọi đường lối, chủ trương và pháp luật. Riêng về đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, việc phân cấp, phân quyền chưa đi đôi với phân bổ đủ nguồn lực về nhân sự, tài chính, công nghệ và cơ sở vật chất. Đáng chú ý, tác động về tâm lý, tư tưởng của cán bộ, công chức, viên chức, nhất là những người đang giữ chức vụ lãnh đạo là vấn đề cần quan tâm.

Đại biểu đề nghị phải có một quyết định đột phá về thu nhập và đãi ngộ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo nguyên tắc: Lương của cán bộ, công chức, viên chức phải ngang với mức sống trung bình của xã hội, không để cho họ trở thành tầng lớp có thu nhập thấp. Chỉ như vậy, họ mới có thể tập trung vào công việc, không phải lo toan mưu sinh, không phải làm thêm để trang trải cuộc sống. Cùng với thu nhập nâng lên cần thiết lập hệ thống KPI hợp lý, áp dụng chế độ lương, thưởng xứng đáng, chế tài nghiêm minh cho việc thực hiện KPI, đồng thời với những đãi ngộ hợp lý khác để phát huy năng lực, khơi dậy khát vọng cống hiến của đội ngũ này. Bên cạnh đó, để phát triển trong kỷ nguyên hiện tại, việc đào tạo và thu hút nhân tài là một nhu cầu bắt buộc và cấp bách cần phải tập trung thực hiện hiệu quả.

Theo báo cáo Chính phủ gửi Quốc hội về việc thực hiện các nghị quyết chất vấn trong lĩnh vực nội vụ, công tác tinh giản biên chế giai đoạn 2022-2026 đã đạt nhiều kết quả rõ rệt, cả về số lượng lẫn chất lượng. Biên chế công chức giảm 5.381 người, tương ứng 5,03% so với năm 2021; biên chế viên chức hưởng lương từ ngân sách giảm 18.119 người, tương ứng 15,17%.

Sau hơn 3 năm triển khai, cả hai chỉ tiêu giảm biên chế công chức và viên chức đều đạt và vượt kế hoạch. Đây là kết quả của việc Chính phủ và các địa phương thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp: giao biên chế theo vị trí việc làm, đẩy mạnh phân cấp, gắn tinh giản với sắp xếp bộ máy và chuyển đổi mô hình hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.

Cùng với tinh giản biên chế, ông Lê Quang Trung - nguyên Phó Cục trưởng phụ trách Cục Việc làm (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nay là Bộ Nội vụ) - cho rằng cải cách tiền lương nên được xem là đòn bẩy chiến lược trong việc giữ người giỏi ở trong bộ máy công chức.

Chính sách tiền lương xứng đáng là một trong những yếu tố quan trọng để thu hút nhân tài vào các khu vực công; thể hiện sự ghi nhận, đáng giá và tôn vinh nhân tài; là động lực quan trọng để người tài gắn bó và cống hiến; góp phần tinh gọn bộ máy và nâng cao chất lượng cán bộ.

Do đó, việc cải cách tiền lương là một khâu đột phá trong việc thu hút, sử dụng và đãi ngộ nhân tài; có ý nghĩa chiến lược trong việc thu hút, sử dụng nhân tài và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.

Tại Nghị trường, Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng thông tin: Chính phủ sẽ xem xét, cân đối nguồn lực và xin ý kiến các cấp có thẩm quyền, trong đó có Quốc hội, để tăng lương sớm hơn. Đây là tin vui đối với hàng triệu công chức, viên chức. Tăng lương là điều cần thiết. Bởi trong suốt nhiều năm qua, mặt bằng thu nhập của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở mức thấp so với chi phí sinh hoạt. Điều đó dẫn tới một thực tế là người giỏi không mặn mà vào bộ máy Nhà nước và có những người làm việc thiếu động lực cống hiến, hiệu quả công vụ chưa tương xứng với kỳ vọng của Nhân dân.

Tuy nhiên, tăng lương chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng tăng trách nhiệm và năng suất lao động của khu vực công. Nếu chỉ nâng mức chi trả mà không thay đổi cách làm việc, cơ chế đánh giá và trách nhiệm giải trình, cải cách tiền lương sẽ chỉ là “đổ nước vào chiếc bình thủng”.

Lâu nay, lương thường được coi là chi phí, trong khi thực chất nó phải là đầu tư cho năng suất Nhà nước. Một bộ máy có thu nhập ổn định, có cơ chế thưởng phạt minh bạch sẽ hoạt động hiệu quả hơn, tạo ra giá trị công lớn hơn cho xã hội. Vì vậy, cải cách tiền lương phải được thiết kế đồng bộ với cải cách thể chế, tinh giản biên chế, xác định rõ vị trí việc làm và tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra.

Khi nói “tăng lương phải đi đôi với tăng trách nhiệm”, điều đó có nghĩa mỗi vị trí công vụ phải được định danh trách nhiệm cụ thể. Không thể có chuyện “làm hay không làm cũng vậy”, “đến sớm hay muộn cũng thế”. Cán bộ hưởng lương cao hơn thì trách nhiệm cũng phải lớn hơn, giải quyết hồ sơ đúng hạn, giảm thời gian chờ đợi của người dân, tiết kiệm chi phí ngân sách, nâng mức độ hài lòng của người dân trong phục vụ. Những chỉ số đó cần được lượng hóa, theo dõi và công khai định kỳ.

Để tránh lãng phí nguồn lực, việc tăng lương phải đi kèm với kỷ luật chi tiêu và tinh gọn biên chế. Ngân sách không thể chịu nổi nếu lương tăng mà bộ máy vẫn cồng kềnh. Cần coi tăng lương là cơ hội để rà soát lại toàn bộ hệ thống phụ cấp, xóa bỏ các khoản chồng chéo, chuyển từ “phụ cấp hóa lương” sang “minh bạch hóa thu nhập”. Mỗi đồng lương tăng thêm phải được quy đổi thành năng suất cụ thể: Hồ sơ hành chính xử lý nhanh hơn bao nhiêu, sự hài lòng của người dân tăng lên thế nào. Ở góc độ dài hạn, tăng lương cần được nhìn như đòn bẩy cải cách toàn diện. Lương gắn trách nhiệm tạo nên động lực làm việc, còn lương gắn năng suất sẽ thúc đẩy đổi mới, sáng tạo trong phục vụ. Một nền hành chính hiện đại, liêm chính và vì dân chỉ có thể hình thành khi mỗi công chức thấy được giá trị của mình được ghi nhận đúng, nhưng cũng chịu trách nhiệm đến cùng với vị trí mà mình đang đảm nhiệm.

Xem thêm

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

Lớn cùng nhịp bước của đất nước

(CLO) Mỗi thế hệ đều có một thời điểm phải trả lời câu hỏi: mình sẽ lớn lên như thế nào trong bước chuyển của đất nước. Với tuổi trẻ hôm nay, câu hỏi ấy đến sớm hơn và cũng cụ thể hơn. Khi Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới với những cơ hội rộng mở nhưng áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, điều được chờ đợi ở người trẻ không chỉ là khát vọng hay nhiệt huyết, mà còn là năng lực thích ứng, tinh thần học tập không ngừng và bản lĩnh để tạo ra giá trị thật. Lớn cùng nhịp bước của đất nước, vì thế, không còn là một lời cổ vũ, mà đang trở thành một yêu cầu của thời đại.

Cỡ chữ bài viết: