Hạn chế xe máy tại các thành phố lớn: Đừng bàn lùi mãi

Tại nhiều nước trên thế giới, lệnh cấm lưu thông xe gắn máy đã được áp dụng và đạt được những thành công. Chấp nhận sự bất tiện và không tránh khỏi thiệt thòi trước mắt trong một giai đoạn, để đổi lấy sự hiện đại, quy củ ngăn nắp lâu dài, hay cứ mãi dùng dằng với đủ các nhu cầu, để rồi đánh vật cùng nhau trên những con đường ngày càng ngộp thở? Và trong công cuộc thay đổi lớn về quản lý nhu cầu giao thông này, quyết tâm thôi chưa đủ. Cần cả sự dũng cảm và dứt khoát của những người đứng đầu.

han che xe may tai cac thanh pho lon dung ban lui mai hinh 1

Hà Nội: Đề xuất cấm xe máy khu vực nội đô

Vừa qua, tại kỳ họp cuối cùng trong năm 2021 của HĐND thành phố Hà Nội, UBND thành phố đã đưa ra kế hoạch thực hiện cấm xe máy tại các quận sau năm 2025, sớm hơn 5 năm so với kế hoạch.

Đề xuất trên được đưa ra trong bối cảnh, UBND thành phố và các sở ngành có liên quan vừa hoàn thành Chương trình mục tiêu nhằm giảm thiểu ùn tắc và đảm bảo an toàn giao thông giai đoạn 2016 - 2020. Đánh giá về kết quả kế hoạch này, ông Dương Đức Tuấn - Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cho biết, tỷ lệ diện tích đất dành cho giao thông tăng từ 8,65% năm 2015 lên 10,07% năm 2020; tỷ lệ đáp ứng nhu cầu của vận tải hành khách công cộng tăng từ 11% lên 17,03%. Trong 5 năm qua, thành phố xử lý được 67 điểm ùn tắc giao thông; tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố hàng năm đều giảm cả ba tiêu chí.

Tuy nhiên, lãnh đạo UBND thành phố Hà Nội thẳng thắn nêu ra một số bất cập của giao thông và hạ tầng phục vụ giao thông Hà Nội. Trong đó, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông chưa đạt yêu cầu; tỷ lệ đất dành cho giao thông, tỷ lệ vận tải hành khách công cộng còn thấp; việc ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác tổ chức, quản lý, điều hành, giám sát giao thông còn chậm và thiếu đồng bộ; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về trật tự an toàn giao thông có lúc, có nơi còn chưa thường xuyên, chưa kiên quyết; ùn tắc giao thông vẫn còn diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông hằng năm tuy giảm cả 3 tiêu chí nhưng vẫn ở mức cao.

Từ các tồn tại trên, lãnh đạo UBND thành phố Hà Nội cho biết, thành phố cần phải tiếp tục xây dựng Chương trình mục tiêu nhằm giảm thiểu ùn tắc và đảm bảo an toàn giao thông cho giai đoạn 2021 - 2025. Trong đó các mục tiêu, nội dung được ưu tiên thực hiện giai đoạn này, gồm: mỗi năm xử lý từ 7 điểm đến 10 “điểm đen” thường xuyên ùn tắc giao thông, hạn chế phát sinh mới các điểm ùn tắc giao thông. “Không để xảy ra các vụ ùn tắc giao thông kéo dài trên 30 phút, xóa bỏ kịp thời các điểm đen về tai nạn giao thông, qua đó góp phần giảm tai nạn giao thông từ 5% -10% hàng năm trên cả ba tiêu chí (về số vụ, số người chết và số người bị thương)”, ông Dương Đức Tuấn nêu rõ trong đề xuất gửi HĐND thành phố Hà Nội.

UBND TP. cho biết trong thời gian tới sẽ tiếp tục nghiên cứu nhằm hạn chế ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường khu vực trung tâm với 2 nội dung, cụ thể:

han che xe may tai cac thanh pho lon dung ban lui mai hinh 2

Với đề án “Thu phí phương tiện cơ giới đường bộ vào một số khu vực trên địa bàn TP. có nguy cơ ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường”, TP. sẽ xây dựng đề án thu phí trình cấp có thẩm quyền phê duyệt đảm bảo chuẩn bị kỹ lưỡng, đảm bảo điều kiện để tổ chức thực hiện trong thời điểm thích hợp; xin ý kiến của các cấp các ngành, các nhà khoa học để tổ chức triển khai thực hiện.

Với đề án “Phân vùng hạn chế hoạt động của xe máy phù hợp với cơ sở hạ tầng và năng lực phục vụ của hệ thống vận tải hành khách công cộng tiến tới dừng hoạt động xe máy trên địa bàn các quận vào năm 2030”, TP. tiếp tục triển khai thực hiện đo kiểm khí thải mô-tô, xe máy cũ đang lưu hành trên địa bàn TP. làm cơ sở nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cải thiện chất lượng không khí.

Liên quan tới đề án trên, Sở Giao thông vận tải TP. đã giao đơn vị liên quan nghiên cứu theo hướng sau năm 2025 dừng hoạt động xe máy trên địa bàn các quận trong phạm vi từ vành đai 3 và đường Trường Sa, Hoàng Sa, quốc lộ 5 trở vào trung tâm TP; sau năm 2030 sẽ dừng hoạt động xe máy trên địa bàn các quận trong phạm vi từ vành đai 4 đối với khu vực nam sông Hồng và vành đai 3 đối với khu vực Bắc sông Hồng.

Có nên cấm lưu thông xe máy tại Hà Nội, TP.HCM vào năm 2030?

Đây là câu hỏi mà nhiều năm nay chưa có câu trả lời thấu đáo khi vấn đề cấm hay không cấm mỗi khi đặt ra đều thu lại những luồng ý kiến trái chiều. Vào năm 2017, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội đã phê duyệt Nghị quyết 45 nhằm quản lý số lượng, chất lượng, và phạm vi hoạt động của Phương tiện Tham gia Giao thông (PTTGGT). Theo đó, lộ trình cấm lưu thông xe máy trong các quận nội thành Hà Nội nhằm tăng cường quản lý PTTGGT và giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường được thiết lập cho đến năm 2030.

Cũng trong năm 2017, chính quyền TP.HCM đã thảo luận đề xuất hạn chế và cấm xe máy nhằm giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường. Theo đó, Quyết định 4341 được ban hành nhằm tạo ra kế hoạch thực hiện cho chương trình giảm ùn tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông giai đoạn 2018 – 2020.

Sau đó, vào năm 2019, Sở Giao thông Vận tải TP.HCM đã đề xuất giải pháp cấm xe máy ra vào các khu trung tâm của Thành phố với 3 giai đoạn: 2020, 2021-2025 và 2026-2030. Mục tiêu để đến năm 2030, giao thông công cộng sẽ phát triển tốt kết hợp với việc tăng cường kiểm soát phương tiện cơ giới.

Theo dữ liệu nghiên cứu của ABeam Consulting (ABeam Việt Nam), công ty tư vấn chiến lược hàng đầu Nhật Bản, xe máy hiện vẫn được coi là phương tiện giao thông chính ở Việt Nam. Cụ thể, vào năm 2020, với tổng dân số 98 triệu người, đã có hơn 65 triệu xe máy được đăng ký, có nghĩa là cứ 3 người thì có 2 người sở hữu một chiếc xe máy.

Mới đây, Bộ Ngoại giao đã phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) tổ chức Hội nghị “Gặp gỡ châu Âu 2021: Đối tác Việt Nam - EU hậu COVID-19 và công bố Sách Trắng EuroCham 2021”. Liên quan đến ngành ô tô, xe máy, theo Sách Trắng Eurocham, việc chỉ cấm xe máy không  phải là giải pháp hiệu quả để cải thiện tình trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường và giảm thiểu tai nạn giao thông tại các thành phố lớn. Nguyên nhân của các vấn đề này nằm ở việc quản lý thiếu hiệu quả phương tiện tham gia giao thông, kỹ năng lái xe kém và ý thức chưa cao về an toàn giao thông đường bộ.

Bên cạnh đó, quy định cấm được đề xuất cũng có thể gây thách thức lớn cho ngành sản xuất xe máy. Bởi vì, trong một thập kỷ qua, lĩnh vực này đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước bên cạnh giá trị nộp thuế lớn và tạo nhiều công ăn việc làm cho lao động địa phương.

Ông Jacques Bouflet - Phó Chủ tịch EuroCham, khuyến nghị Chính phủ cần cân nhắc những biện pháp hiệu quả hơn, toàn diện hơn trong cấm xe máy ở các thành phố lớn từ năm 2030, để giải quyết vấn đề ùn tắc giao thông, ô nhiễm, tai nạn giao thông, tập trung vào chất lượng phương tiện lưu thông.

Liên quan đến quan ngại về ô nhiễm, đại diện Eurocham nhấn mạnh, hiệp hội các nhà sản xuất xe máy đang phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để sửa đổi và đưa ra Luật Giao thông mới, với các quy định cụ thể về quản lý khí thải. Việc ban hành các giới hạn và tiêu chuẩn về khí thải cho phương tiện giao thông là giải pháp trực tiếp cho vấn đề nâng cao chất lượng xe máy có tác động môi trường tích cực.

Đồng thời, với các ngành xe điện vốn có vai trò trong giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí tại các thành phố, ông đề nghị cần đẩy nhanh mức độ chấp nhận xe điện với khách hàng và giảm 50% phí trước bạ với tất cả xe điện được nhập khẩu nguyên chiếc, sản xuất trong nước từ 3-5 năm.

Theo các chuyên gia của Eurocham, để giải quyết đúng vấn đề ô nhiễm, cần tập trung vào chất lượng của các phương tiện lưu thông hơn việc cấm tất cả các phương tiện vào các trung tâm thành phố. Điều này cần được thực hiện bằng cách quản lý hoặc cấm các loại xe máy quá hạn sử dụng và khuyến khích việc sử dụng các phương tiện có khí thải thấp.

Tuy nhiên, ông Jacques Bouflet lưu ý, các địa phương không nên áp đặt hoặc bắt buộc thu hồi xe máy cũ bỏ đi cho tới khi ban hành về định nghĩa thế nào là xe máy bỏ đi; đồng thời, có được chính sách khuyến khích đối với người dùng sử dụng xe máy cũ, vì đây cũng là tài sản của người dân.

Bên cạnh đó, ùn tắc và ô nhiễm có thể được giảm thiểu bằng cách áp dụng các phương pháp hay nhất từ các quốc gia khác, nơi sử dụng cơ sở hạ tầng giao thông và giao thông công cộng tiên tiến kết hợp với xe máy.

Hơn nữa, Chính phủ cũng cần đánh giá tác động xã hội đối với những người có phương tiện đi lại chính là xe máy nhưng hiện phải chuyển sang phương tiện giao thông công cộng chưa phát triển đủ để đáp ứng nhu cầu. Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, cần nâng cao nhận thức về điều tiết và an toàn giao thông. Điều này sẽ làm giảm tắc nghẽn và qua đó, giảm mức độ ô nhiễm.

han che xe may tai cac thanh pho lon dung ban lui mai hinh 3

Dũng cảm và dứt khoát

Hà Nội có thể đạt mục tiêu phát triển đột phá về vận tải hành khách công cộng, với sự tham khảo kinh nghiệm các đô thị tương đồng trên thế giới, sự nghiên cứu kỹ lưỡng và tham vấn chuyên gia, nhà khoa học. Nhưng trong công cuộc thay đổi lớn để sắp xếp lại các nhu cầu đi lại ở đô thị, thì cần nhiều hơn một sự quyết tâm.

Người dân đô thị thực sự muốn gì?

Những tuyến đường ngày tắc hai chiều, cả tiếng đồng hồ đánh vật ngoài đường trước mỗi lần vào ca hay tan sở, đó hẳn không phải là mong muốn của bất kỳ ai.

Những bầu không khí nồng nặc mùi xăng xe và khói bụi, cũng tuyệt đối không thể là mong muốn của người dân đô thị.

Nhưng sự quá tải của lượng phương tiện giao thông cá nhân trong điều kiện hạn hẹp của đường sá và hạ tầng nói chung, đã dẫn đến tình cảnh này. Từ góc độ nghiên cứu chiến lược về giao thông cũng như quản lý đô thị, nhiều ý kiến đều nhất trí rằng, đã đến thời điểm xúc tiến cho một chính sách lớn, nhằm thay đổi căn bản cách quản lý phương tiện giao thông và nhu cầu đi lại trên địa bàn các đô thị như Hà Nội và TP.HCM. Và phát triển mạnh vận tải công cộng song song với hạn chế phương tiện giao thông cá nhân là một hướng đi tất yếu. Hai đô thị lớn nhất nước ta đều đang hướng đến giải pháp này, với các trụ cột là buýt và vận tải hành khách khối lượng lớn như hệ thống buýt nhanh, đường sắt đô thị.

Kinh nghiệm từ các đô thị trên thế giới có điều kiện tương đồng như Hà Nội, TP.HCM cùng các phân tích của giới chuyên gia đã chỉ ra các tham khảo quan trọng cho Hà Nội để có lộ trình và bước đi phù hợp. Nhưng các giải pháp đột phá về hạ tầng, hay tính toán phạm vi giới hạn của xe cá nhân, mức phí vào nội đô theo nguyên tắc phi lợi nhuận…vẫn sẽ là chưa đủ. Hà Nội, TP.HCM cần cho thấy sự dứt khoát hơn nữa trong lựa chọn các thứ tự ưu tiên của mình.

Chấp nhận một sự thay đổi lớn, để cải thiện chất lượng cuộc sống của chính người dân, cải thiện bộ mặt và tương lai cho cả một đô thị đầu tàu, hay ngại thay đổi vì khó, khiến tình hình ngày càng tệ hơn?

han che xe may tai cac thanh pho lon dung ban lui mai hinh 4

Chấp nhận sự bất tiện và không tránh khỏi thiệt thòi trước mắt trong một giai đoạn, để đổi lấy sự hiện đại, quy củ ngăn nắp lâu dài, hay cứ mãi dùng dằng với đủ các nhu cầu, để rồi đánh vật cùng nhau trên những con đường ngày càng ngộp thở?

Mọi thói quen đều có thể thay đổi. Mọi hoạt động sinh hoạt, kinh tế đều có thể sắp xếp, quy hoạch, bố trí lại theo khu vực, theo khung giờ, để giảm thiểu những sự lưu thông không quá bức thiết của giao thông. Tất nhiên, không có sự sắp xếp hay thay đổi nào là dễ dàng. Nhưng nếu chính quyền các đô thị đã xác định rõ mức độ và thứ tự ưu tiên, thì câu trả lời cho bài toán phát triển đột phá vận tải hành khách công cộng để giảm ùn tắc và tai nạn giao thông, sẽ trở nên mạch lạc hơn.

Và trong công cuộc thay đổi lớn về quản lý nhu cầu giao thông này, quyết tâm thôi chưa đủ. Cần cả sự dũng cảm và dứt khoát của những người đứng đầu.

Khánh An

Xem thêm

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Cỡ chữ bài viết: