Nhiệt điện than: Không phải cứ muốn là được

(NB&CL) “Thà xóa quy hoạch chứ nhất quyết không làm nhiệt điện than”- thông điệp rất “rắn” ấy của tỉnh Long An đã và đang thu hút sự quan tâm đặc biệt cũng như tạo nên những luồng tranh cãi của dư luận.

Bảo vệ môi trường là lý do căn bản của quyết định từ bỏ nhiệt điện than được Long An và nhiều địa phương đưa ra, tuy nhiên, rất nhiều ý kiến băn khoăn cũng đang đặt ra là khi nhu cầu sử dụng điện phục vụ sinh hoạt, sản xuất ngày càng tăng, nguồn cung thiếu hụt nghiêm trọng thì việc “quay lưng” với nhiệt điện than trong khi đây vẫn là nguồn giá rẻ, cung cấp điện ổn định nhất liệu có phù hợp? Một bài toán với rất nhiều yếu tố trong câu chuyện loại bỏ nhiệt điện than đã, đang được đặt ra và không hề dễ giải đáp một sớm một chiều.

Nhìn từ các quốc gia

Sau hơn một thập kỷ phát triển bùng nổ chưa từng có, từ năm 2016 đến nay, công suất điện than của toàn thế giới đã giảm xuống đáng kể. Nguyên do là ngày càng nhiều quốc gia có xu hướng loại bỏ dần nhiệt điện than. Theo Tổ chức Giám sát năng lượng toàn cầu (GEM), trong ba năm qua tổng công suất các nhà máy nhiệt điện than mới ở khu vực Đông Nam Á liên tục giảm mạnh. Nếu như năm 2016 tổng công suất là 12.920 MW thì năm 2017 giảm hơn một nửa, còn 6.355 MW, và tiếp tục giảm hơn một nửa còn 2.744 MW trong năm 2018.

nhiet-dien-than-2

Tại châu Âu, tính đến năm 2018, 109 dự án nhà máy nhiệt điện than đã bị hủy bỏ. Tại Mỹ, 179 dự án nhiệt điện than mới đã bị ngăn chặn và 165 nhà máy đang vận hành đã ngừng hoạt động. Tương tự tại Trung Quốc, bắt đầu từ năm 2014, Chính phủ Trung Quốc cũng đã ra lệnh cấm cấp phép xây nhiệt điện than ở nhiều nơi. Ngày 26/1 vừa qua, sau hơn 20 giờ đàm phán, Ủy ban Than Đức (GCC), bao gồm nhiều công ty sản xuất điện, các nhà khoa học, nhà môi trường đã tiến tới được thỏa thuận đóng cửa tất cả nhà máy điện than.

Trong năm 2019, Ngân hàng DBS của Singapore, Tập đoàn OCBC trụ sở tại Singapore, Ngân hàng UOB trụ sở ở Singapore và Tập đoàn tài chính Mitsubishi UFJ trụ sở tại Nhật Bản là những cái tên mới nhất ở châu Á tham gia danh sách hơn 100 tổ chức tài chính trên thế giới hạn chế và ngừng cho vay với các dự án xây nhà máy nhiệt điện.

Báo cáo từ Tổ chức giám sát năng lượng toàn cầu cho biết, chi phí đầu tư cho điện năng lượng tái tạo đang giảm nhiều khiến nhiệt điện than đang bị loại dần ra khỏi thị trường. Hơn 100 tổ chức tài chính đã đưa các nhà máy nhiệt điện than vào danh sách đen và có hành động chính trị nhằm cắt giảm lượng khí thải carbon đang gia tăng.

Sự kiên trì và quyết liệt của Long An

Theo thống kê của Cục điện và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương), tính đến đầu năm 2019, tỷ lệ các nguồn điện vẫn có sự chênh lệch khá lớn. Trong đó, nhiệt điện than chiếm 41,2%. Đứng thứ hai là nhiệt điện khí chiếm 21,9%. Tỷ lệ thủy điện, điện hạt nhân và điện tái tạo chiếm tỷ lệ không cao. Dù nhà máy nhiệt điện than đang chiếm tỷ lệ khá cao trong cung cấp nguồn điện, tuy nhiên, thời gian gần đây, một số tỉnh đã thẳng thừng từ chối hình thức hoạt động nhà máy này. Bởi lẽ theo lý giải, với hình thức xây dựng nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu than, họ lo ngại sẽ gây ô nhiễm môi trường. Long An là một trong những địa phương kiên trì và quyết liệt nhất với quan điểm này.

Co cau nang luong anh 2

Cụ thể, cuối tháng 11/2019, ông Nguyễn Văn Út - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An cho biết, tỉnh vẫn đang làm thủ tục xin Chính phủ chấp thuận việc điều chỉnh nguồn nhiên liệu 2 nhà máy nhiệt điện Long An 1 và 2 từ sử dụng than chuyển sang sử dụng khí hóa lỏng. Theo đó, Long An cho rằng, việc quy hoạch Trung tâm điện lực Long An sử dụng nguồn nhiên liệu khí hóa lỏng sẽ đảm bảo các mục tiêu phát triển bền vững mà Nhà nước và Chính phủ đã đề ra và để phát triển kinh tế tỉnh Long An theo định hướng “nền kinh tế xanh - sạch - hiện đại”.

Bên cạnh đó, UBND tỉnh Long An cũng tiếp tục tổ chức nhiều hội thảo lấy ý kiến chuyên gia, người dân về việc nghiên cứu sử dụng nhiên liệu cho nhà máy nhiệt điện này. Tất cả ý kiến tại các hội thảo đều không nhất trí với hình thức xây dựng nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu than bởi lo ngại sẽ gây ô nhiễm.

Trước đó, sau khi nhận được ý kiến từ UBND tỉnh Long An, tháng 9/2018, Bộ Công Thương đã có văn bản trả lời với nội dung cho rằng theo quy hoạch điện VII đã được Thủ tướng phê duyệt từ năm 2016, tỉnh Long An được quy hoạch phát triển 2 nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu là than. Bộ Công Thương cũng trả lời không có đủ cơ sở để phê duyệt quy hoạch trung tâm điện lực sử dụng nhiên liệu khí hóa lỏng như kiến nghị của tỉnh Long An. Tuy nhiên, Long An vẫn kiên quyết với ý định xây dựng nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu khí hóa lỏng, song song đó kêu gọi các nhà đầu tư tiềm năng vào dự án này. Mới đây ngày 1/11, UBND tỉnh Long An tiếp tục có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh nguồn nhiên liệu 2 nhà máy nhiệt điện Long An 1 và 2 từ sử dụng than chuyển sang sử dụng khí hóa lỏng.

Không chỉ Long An, nhiều địa phương cũng đang quyết liệt từ chối điện than một cách quyết liệt và mạnh mẽ. Theo đó, nhiều dự án nhiệt điện than thời gian qua đã không được thực hiện do đề xuất, kiến nghị của địa phương như các dự án điện than ở Bạc Liêu, Quảng Ninh, Hà Tĩnh.

Không thể một sớm một chiều

Đó là nhìn nhận của nhiều chuyên gia về câu chuyện: đã đến lúc nên loại bỏ nhiệt điện than tại Việt Nam chưa và lộ trình loại bỏ đó sẽ diễn ra như thế nào? Trả lời băn khoăn này của PV. VietNamNet tại cuộc họp báo bên lề Hội nghị cấp cao lần thứ 3 và diễn đàn các bên liên quan lần thứ nhất Nhóm đối tác năng lượng Việt Nam (VEPG), ông Pier Giorgio Aliberti - Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Liên minh châu Âu (EU) tại Việt Nam khẳng định không thể bỏ nhiệt điện than trong “một sớm một chiều”. “Chúng ta phải chuyển đổi từ từ, không thể đột ngột yêu cầu ngay trong 1 ngày chuyển từ điện than sang năng lượng mặt trời, năng lượng tái tạo” - ông Pier Giorgio Aliberti nhấn mạnh. Ông Pier Giorgio Aliberti cho rằng phải tìm ra được sự cân đối tỷ trọng giữa các nguồn năng lượng trong hệ thống điện quốc gia, bởi “không thể nói 100% nguồn điện này hay 100% nguồn điện kia”.

Ngay cả có những nguồn năng lượng thay thế khác thì trong bối cảnh Việt Nam hiện nay vẫn khó từ bỏ điện than - đó là nhìn nhận của nhiều chuyên gia. Ông Lê Văn Lực - Nguyên Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương), từng phụ trách lĩnh vực nhiệt điện, khẳng định đặt trong bối cảnh hiện nay các nguồn điện gặp nhiều khó khăn, không thể “bỏ ngay nhiệt điện than”. Để đảm bảo hệ thống điện với nhu cầu phụ tải tăng trên 10%, chỉ có nhiệt điện than mới đáp ứng được vì đảm bảo ổn định nguồn tốt nhất. Chưa kể, nguồn nhiệt điện than có mức giá hợp lý để các thành phần kinh tế - xã hội sử dụng sản xuất, kinh doanh, trong khi các nguồn khác như năng lượng tái tạo có giá thành cao. Điện là đầu vào cho sản xuất hàng hóa, nếu giá tăng có thể tác động đến giá thành sản phẩm, chi phí chi trả của người dân. Vì vậy, huy động điện khí hay điện tái tạo giá cao chiếm tỷ lệ càng lớn, sẽ càng làm tăng giá điện, từ đó tạo sức ép lên đời sống người dân và sản xuất, kinh doanh. Về lo ngại nhiệt điện than có thể gây ra ô nhiễm, ông Lực cho biết hiện đã có nhiều dự án nhiệt điện than có công nghệ hiện đại được đầu tư và đã có một số dự án đi vào vận hành, kiểm soát được ô nhiễm, với mức độ đều thấp hơn so với tiêu chuẩn Việt Nam cho phép.

Mong muốn có nguồn điện sạch hơn là mong muốn chính đáng. Loại bỏ nhiệt điện than cũng có thể là phương án đã đến lúc phải tính đến. Nhưng loại bỏ vào thời điểm nào, loại bỏ theo một lộ trình như thế nào để vừa đảm bảo được an ninh năng lượng, vừa giảm thiểu tác động tiêu cực tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, của chính đời sống thường ngày của người dân, lại là vấn đề cần phải được xem xét một cách bình tĩnh, thấu đáo.

Theo Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP21) tại Paris, nếu muốn giảm mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính để giữ cho nhiệt độ trung bình toàn cầu không tăng hơn 2oC thì điều kiện bắt buộc là không một nhà máy nhiệt điện than mới nào được xây dựng. Cùng với xu hướng đang diễn ra trên toàn cầu, tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần 34 vào tháng 6 năm nay ở Thái Lan, lãnh đạo các nước ASEAN đã thống nhất và khẳng định mục tiêu đến năm 2025, 23% nguồn cung năng lượng đến từ năng lượng tái tạo, hiện đại, bền vững. Tại Hội nghị thượng đỉnh Climate Action 2019 vào tháng 9/2019 tại Liên Hiệp quốc, Tổng Thư ký Liên Hiệp quốc Antonio Guterres cũng phát đi kêu gọi cắt giảm trợ cấp cho nhiên liệu hóa thạch và dừng xây dựng các nhà máy nhiệt điện than trên toàn cầu. Theo nhận định của GEM, cuộc chuyển mình vào điện tái tạo là “một sự lựa chọn thông minh hơn để thúc đẩy nền kinh tế”.

Trang Thư

Xem thêm

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

Một kỳ thi và bài học về sự trung thực

(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước

(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

Khi tăng trưởng được đo bằng năng lực thực thi

(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Cỡ chữ bài viết: