Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, thành công của Đại hội XIV ghi dấu ấn sâu đậm trong niềm tin và kỳ vọng của nhân dân. Trước hết là hai mục tiêu chiến lược: đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, là nước phát triển, thu nhập cao.
Trong chặng đường 96 năm dưới cờ Đảng quang vinh, chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay; quy mô GDP xếp thứ 32 trên thế giới. Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 195 nước, bao gồm tất cả các thành viên Liên hợp quốc. Song, để không lỗi hẹn với hai mục tiêu chiến lược ấy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã nhận ra con đường về đích còn nhiều rào cản, cần "dọn dẹp" khơi thông.
Nhận thức được chuyển hóa thành hành động nhanh và quyết đoán. Việc chuẩn bị Đại hội XIV mang một tâm thế mới, thực hiện cùng lúc nhiều nhiệm vụ then chốt, trọng yếu. Vừa làm vừa nghiên cứu, tổng kết để có căn cứ lý luận và thực tiễn đưa vào Báo cáo chính trị trình Đại hội. Từng trang Văn kiện vì thế mà nóng hổi hơi ấm cuộc sống, thể hiện tinh thần hành động quyết liệt; hành động ngay từ khi định hình chủ trương, chính sách mới.
Thực tiễn 40 năm đổi mới cho thấy để phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên vươn mình, một trong những yếu tố có tính quyết định là phải tháo gỡ các rào cản, nếu không sẽ tự mình đánh mất cơ hội và làm lỡ bước tiến của đất nước. Từ đó, Văn kiện Đại hội xác định rõ, phải thực hiện quyết liệt ba đột phá chiến lược, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế và thực thi; về nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; về hạ tầng đồng bộ và hiện đại.
Chưa bao giờ như nhiệm kỳ khóa XIII, nhất là vào năm cuối, cả nước, các cấp, các ngành vào cuộc quyết liệt với phương châm "vừa chạy vừa xếp hàng" như thế. Để thể chế hóa chủ trương mới của Đảng thành luật pháp, các cơ quan Trung ương làm ngày, làm đêm. Riêng Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV làm việc 40 ngày, thông qua 51 luật, 39 nghị quyết, trong đó có 8 nghị quyết quy phạm pháp luật. Đây là khối lượng lập pháp chiếm gần 30% tổng số luật, nghị quyết quy phạm được ban hành của cả nhiệm kỳ. Trong đó có luật được sửa đổi kịp thời, có hiệu lực ngay, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện tốt chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đi trước một bước cho việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Trước đây, thường là có nghị quyết rồi mới xây dựng chương trình hành động, tổ chức thực hiện. Nay khác, hành động đi cùng, thậm chí có việc đi trước, để từ đó có thực tiễn chứng minh cho những quan điểm mới trong nghị quyết. Thành công của Đại hội XIV có sự đóng góp quan trọng từ cách làm đặc biệt và hiệu quả ấy.
Nói ít, làm nhiều, làm đến cùng
Với khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên mới, Đại hội XIV đề ra nhiều chỉ tiêu cao, như giai đoạn 2026-2030, phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD. Để cam kết chính trị ấy thành hiện thực, con đường nhanh nhất là nói ít, làm nhiều, làm đến cùng để có kết quả thực sự.
Trong khi đó, điểm yếu lớn nhất lâu nay như Văn kiện nhận định, nhiều chủ trương đúng nhưng tổ chức thực hiện chưa tốt. Nói mà không làm, hoặc làm không đến nơi, không chỉ tự đánh mất niềm tin của nhân dân mà còn khó tổ chức khi có các nhiệm vụ khác. Muốn "xóa sổ" căn bệnh cố hữu ấy, Văn kiện yêu cầu phải hành động; đề cao trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cán bộ; kiên quyết khắc phục tình trạng "nói nhiều làm ít", "nói hay, làm dở", thậm chí "nói không đi đôi với làm"; thiếu kiểm tra, giám sát; đề ra mục tiêu cao nhưng triển khai chậm, hiệu quả thấp.
Tinh thần làm nhiều, làm đến cùng đã được đưa vào các Văn kiện Đại hội ngay từ khi dự thảo. Lần đầu tiên, Chương trình hành động thực hiện nghị quyết là bộ phận cấu thành Văn kiện, làm đồng thời với dự thảo Báo cáo chính trị theo hướng tư duy và hành động song hành; nhiệm vụ đưa ra đi liền với giải pháp thực hiện. Đơn cử như việc đột phá về thể chế được cụ thể hóa thành 28 đầu việc; từng việc giao cho cơ quan nào phụ trách, thời gian hoàn thành ra sao...
Từ chỗ Văn kiện chủ yếu là định hướng, nay chuyển mạnh sang lượng hóa từng nhiệm vụ, dễ nhớ, dễ thực hiện; việc nào làm trước, việc nào làm sau, ai làm, làm như thế nào, thời hạn bao lâu, trách nhiệm ra sao đúng với tinh thần nói ít, làm nhiều, làm đến cùng.
“
Tư tưởng xuyên suốt các Văn kiện cũng như những tham luận tại Đại hội đều dựa trên nguyên tắc "Dân là gốc", là thước đo cao nhất của mọi quyết sách.
Nhân dân là thước đo cao nhất của mọi quyết sách
Tư tưởng xuyên suốt các Văn kiện cũng như những tham luận tại Đại hội đều dựa trên nguyên tắc "Dân là gốc", là thước đo cao nhất của mọi quyết sách. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển. Mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân; vì hạnh phúc của nhân dân. Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ. Đây không chỉ là quan điểm nêu trong Văn kiện mà còn là bài học quý giá nhất kết tinh từ hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của cha ông được Đảng ta kế thừa, bổ sung, hoàn thiện qua từng giai đoạn lịch sử. Giá trị cốt lõi làm nên sức sống của Văn kiện Đại hội XIV chính là ở đó.
Từ Đại hội, cánh cửa kỷ nguyên mới đã mở rộng và con đường đi tới hai mục tiêu chiến lược đã định vị rõ ràng. Câu hỏi làm gì, làm như thế nào Đại hội trả lời rất cụ thể với tám nội dung xuyên suốt các quyết sách chiến lược và năm nhóm việc. Từ hoàn thiện thể chế, lấy thực thi làm thước đo đến xác lập mô hình tăng trưởng mới, kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Từ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, động lực trung tâm của phát triển đến xây dựng văn hóa và con người, nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực phát triển của đất nước. Từ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng xã hội Việt Nam lành mạnh, kỷ cương, văn minh, an toàn và phát triển đến củng cố đại đoàn kết toàn dân tộc, nền tảng sức mạnh quốc gia...
Đại hội đã thành công tốt đẹp, song mới là kết quả bước đầu. Điều quan trọng và có ý nghĩa hơn là các quyết sách đã thông qua có được thực thi, làm cho dân giàu, nước mạnh thật sự hay không. Để thực hiện cam kết trước nhân dân và lịch sử là cả chặng đường dài không ít khó khăn phía trước, bởi không có con đường nào tới vinh quang bằng phẳng. Đại hội XIV đã mở ra vận hội mới cho đất nước. Giờ là lúc nắm lấy cơ hội, biến thách thức thành động lực hành động. Việc gì có lợi cho dân thì làm, cho cuộc sống của Nhân dân tốt đẹp hơn, cho đất nước giàu mạnh hơn để Đại hội thật sự là biểu tượng trong lòng dân.
(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định.
(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.
(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.
(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.
(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng.
(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.
(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...
(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.
Trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, chiều 31/7, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có buổi làm việc với Lãnh đạo Bộ Ngoại giao và các Đại sứ, Trưởng Cơ quan Đại diện Việt Nam tại nước ngoài.
(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế.
(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.
(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.
(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.
(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?
(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.
(CLO) Sau một năm vận hành, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp ở Phú Thọ đã cho thấy những chuyển động tích cực ở cơ sở. Người dân hưởng lợi từ một nền hành chính thuận tiện hơn, đội ngũ cán bộ xã từng bước thích ứng với trọng trách mới.
(CLO) Mỗi mùa thi tốt nghiệp trung học phổ thông đều mang theo biết bao kỳ vọng của học sinh, gia đình và toàn xã hội. Sau mười hai năm đèn sách, kỳ thi không chỉ khép lại một chặng đường học tập mà còn mở ra cánh cửa của tương lai. Đó có thể là giảng đường đại học, trường nghề hay hành trình lập nghiệp của mỗi người.
(NB&CL) Ngày 2/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
(NB&CL) Suốt nhiều năm, “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” gần như đã trở thành một nhận định quen thuộc mỗi khi bàn về những lực cản đối với phát triển. Thế nhưng, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến với các địa phương đầu tháng 7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một nhận định khác, ngắn gọn nhưng giàu sức gợi: “Hiện nay, vấn đề cốt tử, cốt lõi là triển khai thực thi. Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn của điểm nghẽn nữa. Thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.
(CLO) Có những thành phố được biết đến bởi lịch sử. Có những thành phố được nhớ đến bởi quy mô hay sự giàu có. Nhưng cũng có những thành phố mà ngay trong tên gọi đã mang theo một kỳ vọng lớn. Thành phố Hồ Chí Minh là một trường hợp như vậy.